NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG ĐÃ QUA
(Hồi ký)
Tôi không
phải là nhà văn mà là nhà giáo dạy văn. Một nhà giáo dạy văn lâu năm ở trường
THPT. Xuyên suốt 40 năm trong ngành giáo
dục, chỉ có 15 năm làm công tác quản lý, còn lại trực tiếp đứng trên bục giảng.
Với một người tâm huyết với nghề, tận tâm gắn bó với cuộc đời, những điều tôi
chắp bút viết ra là sự thực cuộc đời tôi. Bởi tuổi thơ ấu của tôi gắn liền với
bao biến cố của thời cuộc, của cuộc đời. Những kỷ niệm gắn bó với tôi từ khi sinh ra, lớn lên đến lúc trưởng thành
và mãi đến bây giờ.
Tôi
sinh ra vào đúng năm đói khủng khiếp - năm ất Dậu 1945 đã ghi vào trang sử sách.
Cách mạng tháng 8 tôi thuộc diện trẻ sơ sinh, chưa được nửa tuổi . Chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5 - 1954 tôi vừa
tròn 9 tuổi. Tuổi thơ ấu và tuổi niên thiếu của tôi đi cùng năm tháng của cuộc
kháng chiến trường kỳ 9 năm, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lẫy
lừng năm châu, chấn động địa cầu, rồi cả cách ruộng đất, dân cày có ruộng, đất
nước bước sang trang sử mới.
Tôi hoạt
động cách mạng kể từ khi được kết nạp vào
Đoàn TNCS ngày 22 tháng 12 năm 1963. Từ đây
tôi thường ghi nhật ký vì làm cũng phải
ghi nhớ và có tư liệu để sau này viết hồi ký.
Tôi trưởng
thành - khi thực sự là một giáo viên đã được
trải nghiệm và đã 15 năm làm công tác quản lý giáo dục, tôi bắt đầu viết hồi ký
từ năm 1993 và cũng chính con số 3 cuối cùng cũng ngẫu nhiên cách nhau 10 năm
nay đã gắn bó với tôi biết bao nhiêu kỷ niệm. Đó là những năm tháng đáng nhớ không
bao giờ quên.
- Năm 1953: Năm đầu
tiên cắp sách tới trường
- Năm 1963: Một liên đội trưởng ưu tú được chuyển
thẳng lên Đoàn, bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng.
- Năm 1973: Sau đợt đi học trường BDTW chi viện
cho B được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam .
Và cũng trong năm đó
thành lập gia đình và 10 năm sau
- Năm 1983: Lần đầu
tiên tổ chức sinh nhật đứa con gái đầu lòng tròn 1 tuổi, điều mong mỏi suốt 10 năm nay.
- Năm 2013: Được tặng
huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, kỷ niệm 50 năm ngày tham gia hoạt động cách mạng, 60
năm tựu trường bước vào con đường mới tuổi ấu thơ.
Cuốn hồi ký mang tên
“Những chặng đường đã qua”, mục đích ghi lại những chặng đường, thời gian tôi đã
đi qua. Đó là đường đời, thời thơ ấu, thuở thiếu thời, đi học, hoạt động công tác
và trưởng thành.
“Những chặng đường đã qua” còn ghi lại những
cảm xúc, những tình cảm thân thương, trìu mến, sâu nặng của tôi đối với quê hương,
đất nước, con người. Đó là làng Sen, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Đó là nhà trường,
là các thầy, cô giáo đã giáo dục, dạy dỗ tôi. Những người thầy đầu tiên, không
có cuối cùng.
“Những chặng đường đã qua” còn ghi lại những
tình cảm của tôi đối với gia đình, lòng kính yêu biết ơn cha mẹ, tình yêu vợ, thương
con, tình anh em, tình bạn bè sâu nặng và tất nhiên còn không quên tình đồng chí,
đồng nghiệp, đồng hương và đặc biệt là tình thầy trò sâu đậm .
Cuốn hồi ký của tôi được
hình thành 3 phần:
I- Phần thứ nhất: Thời thơ ấu
I- Phần thứ nhất: Thời thơ ấu
1, Ký ức làng
Sen (2 di tích tiêu biểu: Đình Sen, bến phà Sen)
2, Làng Sen - tuổi thơ gắn liền bao thời cuộc
(Nạn đói 1945, CM
T8, kháng chiến thắng lợi, CCRĐ). Đặc sản tiêu biểu Ngô, măng.
II-
Phần thứ hai:
1, Đi học – nhà
trường và những người thầy đầu tiên
2, Trường đời - Trưởng
thành
III-
Phần thứ ba: Những người sống bên tôi
1, Ký ức về thân
sinh tôi: Bố, mẹ
2, Những trang viết
về anh, chị tôi.
3, Những trang viết
về vợ, con tôi.
4, Những người bạn cùng
chí hướng, đường đi từ thuở ấu thơ đến trưởng thành (có thể lồng ghép trong các
phần, chương trên).
THỜI
THƠ ẤU
ChươngI- Ký ức làng Sen.
Quê gốc tôi Ngọc Châu, Cồn Cát, Diễn Tháp, Diễn
Châu. Tôi sinh ra và lớn lên tại một vùng quê miền Tây xứ Nghệ; một miền quê
nghèo khó bên dòng sông Con bốn mùa nước trong xanh, hiền hòa trôi chảy . Trong
làng có nhiều hồ nhỏ mà người dân quê tôi gọi là bàu. Tuy không rộng lớn nhưng
cũng đủ nước cho cả 4 mùa để nuôi sống các loại thủy sản: cá, tôm, cua, ốc, ếch
và trai, hến ... một nguồn thực phẩm vô tận, thức ăn dữ trữ cho con người. Có bàu
còn có cả Sen. Khi mùa hè đến những cánh sen hồng rực rỡ khoe sắc, mùi hương của
hoa sen thơm ngát làm cho khung cảnh quê hương trở nên hữu tình, thi vị. Có lẽ vì
thế mà có cái tên “Làng Sen”, một cái tên tượng trưng cho sự dịu hiền, giản dị,
tinh khiết, sự vươn lên mạnh mẽ trẻ trung. Khi tôi sinh ra, lớn lên đã có tên làng
và hai tiếng “Làng Sen” đã trở nên gần gũi thân thiết với tôi từ thuở bé thơ và
làng Sen tôi hồi ức ở đây là làng Sen từ thập kỷ 60 trở về trước, trong khoảng
năm, bảy trăm năm. Còn từ những năm 60 của thế kỷ 20 do chiến tranh ác liệt làng
đã chuyển dời lên Eo Đế.
Trước cách mạng tháng tám năm 1945 làng mang
tên Tri Lễ thuộc tổng Cự Lâm, gồm các xã
Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình, Nghĩa Hợp, Nghĩa Dũng, Nghĩa Thái và Nghĩa Hoàn ngày
nay. Tổng Cự Lâm thuộc phủ Quỳ Châu. Bên làng Sen phía Tây Bắc có làng Mài sau gọi là Xuân Liên có bàu sen nép mình bên cạnh. Lý do gì mà gọi “Làng Sen”? không biết từ “Sen” ở đây lấy
từ hồ sen, bàu sen, hoa sen hay “sen” là “liên”, Phượng Liên. Chưa ai giải đáp
rõ. Qua thời gian dài tìm hiểu, qua nghiên cứu lịch sử và các bậc cao niên tiền bối kể lại: Sở dĩ có
cái tên “làng Sen” vì ngày xưa, đã lâu lắm rồi có lẽ là phải năm, bảy trăm năm
là ít, giữa làng có cái hồ sen rộng lớn mà người dân quê tôi thường gọi là “bàu”,
vốn là khúc sông bị bồi lấp của con sông Con (đoạn gần cuối sông Hiếu). Chứng tích
còn lại là bàu Cóp, bàu Rác, ở giữa làng, rải rác có các ao hồ như: ao Cổng Bắc,
ao ông Phấn Bẹn, ao Cửu Mai, ao ông Chín, ao ông Chử, ông Củng, ông Nhung và đặc
biệt có bàu Sen ở phía Tây Bắc làng. Mùa hè bàu nước, lá sen trong xanh một màu
nổi lên là những đóa hoa sen hồng phơn phớt tím tỏa hương thơm ngào ngạt.
Thiết nghĩ của tôi có lẽ đúng. Theo địa hình,
dòng chảy của con sông Con bây giờ và các bàu, lạch hiện có nó đi gần như song
song với nhau. Dòng sông Con (đoạn gần cuối sông Hiếu), sau khi qua đất Nghĩa Bình
dòng chảy từ phía Bắc (Bãi Giang) xuống phía Nam (Đồng Bàu) có bàu Sen, bàu Cóp,
bàu Rác. Từ đồng Bàu chảy đến bến Vực Lồ, dòng chảy theo hướng Đông Tây, phía Bắc
(Hữu Ngạn) có các bàu: Bàu Già, bàu Quốc (Vụng Quốc), bàu Vả (vụng Vả), nối tiếp là
một con lạch từ Hủng Mưng, chảy qua Đồng Thang, Rộc Vó xuống bãi Sải, vực Vàng
...
Làng lại nằm khiêm nhường bên đường Quốc lộ
15A mà bà con quen gọi là “đường cái quan”. Địa hình bằng phẳng được phù sa từ
con sông Con bồi đắp, Xung quanh làng xa xa là đồi núi, giữa thung lũng là những
cánh đồng phì nhiêu, trù phú, có nhiều bãi bồi thích hợp cho sự phát triển hoa
màu, lương thực: bãi Giang, đồng Bàu, bãi Đào, hác Ráng, đồng Sòi, đồng Thang,
bãi Sải, đồng Rác, xâu Lươn, hủng Mưng, cổ Kiềng. Đặc biệt là có những cánh đồng trồng lúa nước:
đồng Gà, đồng Sen, đồng Cung, cồn Hội, cây Gáo, khe Mai, đồng Lăng, đồng Quan,
rộc Nứa...
Có thể nói đây là một vùng quê thuần nông, giàu
có chưa được khai thác và đây cũng là nơi
đầu tiên và cuối cùng gắn bó tôi, níu giữ tôi với cội nguồn và cũng như mọi người
dân nơi đây, chúng tôi luôn tự hào mỗi
khi nhắc tới tên làng. Bởi nó không chỉ
là một đơn vị hành chính đơn thuần mà còn là một địa danh lịch sử lâu đời; một
cộng đồng văn hóa có đặc thù riêng. Và nơi đây còn nhiều chứng tích lịch sử của
Nghĩa Đồng, Nghĩa Đàn xưa gắn với quá khứ hào hùng của một vùng quê giàu truyền
thống cách mạng. Mà một trong những chứng tích lịch sử đáng ghi nhớ đó là Đình
Sen hay còn gọi là Đình Trung. Theo các bậc cao niên trong làng xã xác định kể
lại: Ngôi đình được xây từ năm Bính Dần (1926) vào niên hiệu Bảo Đại thứ 2. Đây
là ngôi đình lớn, nổi tiếng thuộc diện bậc nhất với các đình của làng xã ven sông
Hiếu ở Nghệ An.
Đình được làm theo kiểu nhà tứ trụ, trước cổng
là hai cột nanh cao khoảng 5m, trên cùng đắp tạo hai con hổ ngoảnh mặt vào
nhau, hai bên cổng chính xây đắp hai vị tướng cầm kiếm đứng gác. Hai cánh gà
hai bên đổ đúc hai con hổ chầu. Hai bên sân đình có hai cờ đại với chiều cao
khoảng chừng trên 8m. Trên nóc đình được đắp nổi hình tượng hai con rồng theo
kiểu “Lưỡng long tranh châu” hai con rồng hướng về quả cầu lửa trông rất đẹp mắt
trang kính, uy nghiêm, thượng hạ nhất quán. Chất lượng chủ yếu là cát mật vôi vữa
được gắn bởi các mảnh sành sứ . Ngôi đình gồm 5 gian lợp ngói âm dương. Bốn đầu
đao cao vút là hình tượng bốn con nghê
chầu, chiều cao từ đỉnh xuống đến chân cột là khoảng trên 6m, chiều dài trên
19m, rộng gần 10m, với 24 cây cột bằng gỗ lim. Cột lớn cao trên 5m, chu vi khoảng
1,3m; cột thấp gần 4m, chu vi hơn 1m đều có đá tảng kê chắc chắn.
Trong đình có đầy đủ đồ tế khí, gồm hương án
cổ được sơn son thiếp vàng, kiệu song loan, lọng cổ, cờ đại tướng, bát bảo, ngũ
sự bằng đồng, lư hương, mâm rượu và hai con hạc bằng đồng đứng trên hai con rùa.
Trên các cột, vì, xà, kèo, mái, viền được
chạm trổ hoa văn một cách tinh xảo. Các vật được chạm khắc đó là những con vật
trong bộ tứ linh, tứ quý mà các nghệ nhân xưa vẫn thường sử dụng. Nơi mới xây dựng
đầu tiên cảnh vật quanh đình còn tĩnh mịch, cây cối um tùm. Trong khuôn viên đình
là những cây cổ thụ lớn, rất cổ kính, thiêng liêng và nổi lên là những cây lim,
cây sú, cây mát, cây xoài ( mà bọn trẻ chúng tôi gọi là “trôi”, chứng tích còn
lại là có những gốc lim to, đặc biệt vẫn còn cây trôi Thượng “Thắng”.
Vào năm 1947, sau một trận lũ lớn, vùng đất
phía Đông đình giáp với bờ sông lạch bị sạt lở, đình được chuyển đến một vị trí
mới tiến sâu vào làng, gần đường cái quan, đối diện phía Tây bên kia đường là mấy
đền chùa, phía Nam đình là bàu Cóp. Tại vị trí này đình được trùng tu lại, tuy
nhiên chung quanh không được như địa điểm cũ.
Đầu những năm 50 của thập kỷ trước, sau những
năm đi sơ tán vì chiến tranh ác liệt chống thực dân Pháp, khi chưa xây dựng được
trường học cho các cấp, xã quyết định dùng
ngôi đình tạm làm trường học cho các lớp trường cấp I Nghĩa Đồng (tôi được gần
gũi gắn bó 3 năm học ở ngôi đình này), từ lớp 2 đến lớp 4).
Đến năm 1976, khi dân
làng từ các xóm Thượng Thắng, Đông
Giang, Đại Giang, Hoa Bắc, Nam Tiến và cả 2 xóm Hồng Yên, Xuân Liên (thuộc làng
Mài cũ) dời lên hết Eo Đế thì đình Sen vẫn nằm chơ vơ giữa cánh đồng mênh mông
cỏ cây um tùm. Ba năm sau 1979, nhận thấy ngôi đình ngày một xuống cấp bởi nắng
mưa, gió táp, bởi khoảng cách thời gian vắng bóng con người, UBND xã Nghĩa Đồng
mới có chủ trương đưa đình Sen theo người lên đồi và đặt tạo địa điểm xóm 7 hiện
nay. Nơi đây đình được dựng quay mặt hướng Đông, có con đường cái lớn liên thôn
chạy qua, phía trước là cánh đồng lúa mênh mông, tiếp giáp là đường Quốc lộ, phía
Nam là hồ sen. Đình được xây gạch bao
quanh dùng làm tạm cửa hàng thương nghiệp của HTX mua bán xã. Sau đó năm 1980 làm trụ sở của Đảng uỷ, UBND xã. Mặc dù di
chuyển nhiều lần ở nhiều địa điểm cách xa
nhưng vẫn được trùng tu đầy đủ, trọn vẹn nên cơ cấu thiết kế ban đầu của đình cơ
bản vẫn được giữ nguyên vẹn.
Tại đình Sen thời gian trước Cách mạng tháng
Tám, nhất là vào những năm cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhân dân ta, chủ yếu là
bà con nông dân, thêm ít tiểu thương thường lấy cớ họp làng trao đổi chuyện làm
ăn để qua đó bàn chuyện đấu tranh, nhằm che mắt kẻ thù (bọn tay sai thực dân, bọn
chức sắc, cường hào, gian ác trong làng). Từ đó các cơ sở Đảng ở Tri Lễ ngày được
củng cố và phát triển. Phong trào quần chúng lên cao, các tổ chức Hội được thành
lập mà tiêu biểu nổi lên là Đội tự vệ đỏ làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự,
phát hiện ngăn chặn bọn tay sai bán nước luôn dòm ngó, phá hoại các cơ sở cách
mạng của Đảng. Một thời gian chi bộ Đảng còn lấy đình Sen làm trung tâm, nơi đầu
mối giao lưu, liên lạc, hội họp cũng là nơi in ấn các chỉ thị, Nghị quyết, cất
dấu tài liệu mật . Đây cũng là nơi phát ngôn tuyên truyền của các cán bộ, đảng
viên kêu gọi nhân dân, vận động quần chúng đứng lên đấu tranh chống sưu cao,
thuế nặng, chống áp bức bóc lột . Đồng thời tổ chức các cuộc mít tinh phản đối đế
quốc thực dân và phong kiến khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng.
Trong quá trình hoạt động, xây dựng lực lượng cách mạng cơ sở
đoàn thể, những người cộng sản trung thành từ đấu tranh bất hợp pháp đã góp phần
thổi bùng ngọn lửa, âm vang tiếng trống Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Do bị đàn áp, khủng bố đã man sự truy nã gắt
gao số cán bộ dưới xuôi lên (chủ yếu người
Diễn Châu) hoạt động phải dời qua Khe Thần Cồn Mối ẩn náu. Lúc này hoạt động của
các cán bộ đảng viên và nhân dân gặp không ít khó khăn, vào những năm cao trào
Xô Viết lên cao rồi lắng xuống, hầu hết các chi bộ được cán bộ dưới xuôi lên trực
tiếp xây dựng và chỉ đạo bị tan vỡ. Một số đảng viên trung kiên không chịu khuất
phục trước quân thù, không chịu đầu hàng bọn tay sai bán nước và cướp nước đã bị
xử tử hình tại sân đình.
Nhưng sau đó không lâu, dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Đông Dương, cấp trên, các tổ chức đoàn thể, hội Nghĩa Đồng nói chung
Làng Sen nói riêng lại được khôi phục đi
vào hoạt động bí mật, tập hợp lực lượng cách mạng, tạo khí thế đấu tranh mới làm
cơ sở cho cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 giành nền độc lập tự do cho quê hương
đất nước.
Trong cuộc đấu tranh cách mạng đó, Tổ quốc mãi
mãi ghi công những người con Xô Viết trên quê hương làng Sen kiên cường, bất
khuất, không quản gian nguy, không tiếc xương máu, hi sinh thân mình cho quê hương
đất nước như ba đồng chí Nguyễn Linh, Lê Nguyệt, Lê Thạch . Hiện các đồng chí đang
yên nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ xã Nghĩa Đồng giáp đường 15A đối diện cổng “Làng
văn hóa Làng Sen”.
Và nói đến địa danh
ghép với từ “Sen” không thể không nhắc đến “Bến phà Sen”.
Bến phà Sen có tên gọi
khác Bến Vực Lồ. Bởi con sông Con khúc qua ghềnh đền Vực Lồ phân cách giữa hai
xã Nghĩa Bình, Nghĩa Hợp. Bến phà Sen, đò Sen có từ đầu những năm 20 của thế kỷ
trước cùng với sự xuất hiện của con đường 15 nối từ thành Vinh qua Thanh Chương
đến Đô Lương lên vùng đất đỏ Phủ Quỳ nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc
địa thực dân Pháp. Tuy là con đường huyết mạch có lợi cho việc lưu thông ở vùng
Tây Bắc xứ Nghệ giàu tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đất đỏ Bazan thích hợp
cho việc trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su, cam, chanh, dứa, mía | nhưng
chính quyền thực dân “bảo hộ” chỉ cho xây
đắp thông thương con đường đoạn qua sông Con cũng như qua sông Hiếu thượng nguồn
của con sông Con vẫn không bắc cầu mà chỉ
có đò, phà chèo chống gây bao khó khăn, nguy hiểmn cho người và các phương tiện
qua lại.
Mãi đến những ngày đầu năm 2009, đáp ứng lòng
mong mỏi của nhân dân khu vực Tây Bắc xứ Nghệ, bến Phà Sen đã được bắc qua cây
cầu vượt, một trong những cây cầu lớn trên đường qua các sông suối miền Tây xứ Nghệ, tạo cho giao thông
các huyện miền núi Nghệ An được thuận lợi, góp phần không nhỏ trong cụôc khai
thác tiềm năng, tạo việc phát triển kinh tế vùng Tây Bắc Nghệ An, không ngừng nâng
cao cuộc sống ấm no cho đồng bào các dân tộc miền Tây xứ Nghệ.
Người dân làng Sen nói riêng, nhân dân các làng
thuộc Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình, Nghĩa Hợp, Nghĩa Dũng nói chung rất vui mừng, phấn
khởi, tự hào đi qua cầu ngắm cảnh sông núi, làng quê, chiêm ngưỡng vẻ đẹp duyên
dáng, đồ sộ, vững chắc của cây cầu soi mình trên dòng sông trong xanh uốn khúc
mà hàng trăm năm nay mới có được.
Rồi hồi ức về những năm tháng chống chiến
tranh phá hoại leo thang ra miền Bắc của đế quốc Mỹ. Nơi đầy từng là mục tiêu,
trọng điểm ném bom tàn phá của không quân Mỹ, biết bao trận bom thù cày xéo. Và
hai bên bờ sông, hai đầu cầu từ Cồn Ngô - Nghĩa Đồng cho đến Cồn Đền - Động Sú
Nghĩa Hợp biết bao trận đánh trả ác liệt của lực lượng bộ đội phòng không, của
các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân tự vệ chống trả máy bay Mỹ oanh tạc.
Những ngày tháng năm đó máy bay địch thường
xuyên quần đảo, kiếm tìm mục tiêu bắn phá bến phà. Kẻ thù đã trút xuống mảnh đất
nơi đây hàng ngàn tấn bon, đạn rốc két phá hoại bến phà, đường sá hòng ngăn chặn
sự chi viện vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm của hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường
miền Nam .
Nhưng quân và dân ta, nhất là nhân dân làng
Sen, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương với ý
chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, vẫn kiên cường “Chắc tay cày, vững
tay súng” cùng với các đơn vị bộ đội phòng không, công binh và công nhân bến phà
luôn bám sát bến phà và chiến đấu chống trả kẻ thù lập nhiều chiến công hiển hách.
Đó là vào một ngày giữa hè năm 1965, cũng như
mọi khi, máy bay Mỹ kéo đến, bầu trời ầm ĩ, xám xịt, đỏ quạch bởi tiếng gầm rú
của động cơ phản lực, đạn nổ của pháo cao xạ, súng máy liên thanh và lác đác, lẻ
tẻ các loạt đạn súng trường CKC, K44 của dân quân, rồi tiếng nổ rung trời chuyển
đất, khói bụi mù mịt của những quả bom chạm đất nổ tung, chủ yếu là vùng trọng điểm:
Bến phà.
Lần này máy bay giặc Mỹ không chỉ bay về bến
phà Vực Lồ mà còn quần lượn ngay trên đầu
chúng tôi, trên bầu trời rộng lớn không riêng làng Sen - Nghĩa Đồng mà cả xã
Nghĩa Bình, Nghĩa Khánh. Được sự chỉ bảo
hướng dẫn của các công an viên, dân quân,
ban chỉ huy quân sự xã và còi báo động khẩn cấp của đài quan sát phòng không, mọi người đều xuống
các hầm hào. Một chỉ huy trực chiến phòng không cùng với đồng chí Bí thư Đảng ủy
xã Võ Duy Mậu và anh Phạm Văn Chu - chủ nhiệm HTX Hoa Bắc phụ trách dân quân hội
ý, chớp nhoáng, nhận định: Có thể lần này nó mở rộng diện đánh phá ác liệt hơn.
Theo hướng vòng lượn đảo của máy bay, chắc chắn nó không chỉ đánh bến phà, đường
15A mà đánh cả đường mới 15B và H47 nữa. Dự đoán không sai, liền đó là còi báo động
liên hồi, dục giã và tiếng hét thật to qua loa phóng thanh của đài quan sát, trạm
chỉ huy trực chiến.
Chúng cắt
bom, đánh H47, ba cầu ngầm đường 15A và đường
mới 15B. Một tốp gồm 4 chiếc AD6 xuất hiện đang bổ nhào xuống vùng từ Ba khe
theo Quốc lộ 15 đến Cồn Ngô xuống bến phà Vực Lồ và phía bên kia làng Ga, cồn Mối
dọc hai bên đường mới 15B.
Chúng tôi, ngồi dưới chiến hào trong các ngách
hầm cá nhân, máy bay địch rít trên bầu trời như xé toang màn không gian trời đất
ra. Và như vậy, không chỉ riêng làng Sen mà cả xã Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình nằm giữa
gọng kìm, giữa một tam giác mà ba đỉnh là ba trọng điểm. Thì ra, địch đã phát
hiện ra đoàn xe quân sự gồm 10 chiếc chở vũ khí từ tổng kho Cát Mộng- Nghĩa Đàn
ra các chiến trường đang trên đường 15, lúc đi qua 3 cầu (3 khe) cách Phà Sen dăm
ba cây số gần sát H47. Máy bay địch lại
lao đến. Những con ma vừa xuất hiện bổ nhào, chúi xuống cắt bom, bắn Rốc két xối
xả xuống những điểm dù di động hay đứng im mà chúng cho là mục tiêu hòng đánh
phá đoàn xe.
Mưu trí, kiên cường, dũng cảm, nhân dân làng
Sen nói riêng, nhân dân các dân tộc Nghĩa Đồng nói chung mà chủ yếu là lực lượng
dân quân đã cùng với các đơn vị xã bạn, với các đơn vị bộ đội phòng không trên đất
Nghĩa Đồng đánh trả quyết liệt kẻ thù, bảo vệ đoàn xe, đưa xe lánh vào các hẻm đồi,
lùm cây, ngụy trang xe cách an toàn.
Trận chiến đấu tuy không bắn rơi, bắn cháy một
máy bay nào nhưng quân và dân ta đã chiến thắng, kẻ thù đã rút khỏi, không bắn phá được mục tiêu, đoàn xe vận tải quân sự được
bảo tòan tuyệt đối.
Trong lúc máy bay ngừng hoạt động, tiếng máy
bay xa dần rồi im bặt, còi báo yên ở đài quan sát phòng không rú vang, mọi người
lên khỏi hầm (chủ yếu ông già, bà lão và trẻ em). Làng Sen vẫn nguyên vẹn chỉ
phía trên Cồn Ngô, quanh ven làng, dọc hai bên đường lỗ chỗ những hố bom, đất cát
còn tươi nguyên. Một số người đang sản xuất trên cánh đồng không có hầm trú ẩn
bị mảnh bom cắt bị thương, một vài người bị thương nặng máu ra nhiều, tử vong.
Phía Bắc Nghĩa Bỡnh nơi gần H47, cùng 3 cầu bị thiệt hại nặng về hoa màu, cánh đồng bị tàn phá ghê
gớm, khói còn mù mịt và lâu lâu bom nổ chậm nổ phát tung, khói bốc cao lưng chừng
trời và theo hướng gió bay tản về các làng mờ mịt.
Lại một đêm khủng khiếp, đêm định mệnh.
Đêm khuya, khoảng trời cao thăm thẳm, trăng
non đã lặn khuất sau đỉnh núi phía Tây. Hàng ngàn vạn vì sao rực rỡ rọi xuống đủ
ánh sáng cho nhận được những hình dáng đậm, nhạt, thấp, cao, to, nhỏ của từng
ngọn núi, ngôi nhà. Con đường 15 lờ mờ ảo thực dưới ánh sao như trườn lên phía
trước lăn mình trong cái huyền ảo của trời đêm .
Sang canh chừng 1,2 giờ sáng đột nhiên nghe 3
tiếng súng nổ . Tiếng đạn rít xé toang không khí đánh thức cả không gian tịnh mịch. Trên trời những con ma thần sấm
gầm rú lao xuống vút lên. Ánh sáng dưới mặt đất vụt tắt. Chúng lựơn quanh, lộn nhào, thả pháo sáng mấy vòng
quanh làng Sen. Con đường 15 lỗ chỗ ổ voi, ổ gà, những hố bom to, nhỏ đen thui.
Những chiếc đèn dù pháo sáng lóe lên rồi tắt. Hai con ma từ trong bóng đêm hướng
Bắc Nam, đến cồn Ngô một chiếc chúi xuống, cắt bom. Bom lớn, bom nhỏ, có cả bom
bi trút xuống. Chiếc khác thả pháo sáng, bắn rốc két . Những luồng lửa đạn lóe
sáng, chớp giật liên hồi, tới tấp, những cột khói đen nghi ngút bốc cao, lan tỏa
cả một vùng không gian rộng lớn.
Căn hầm chữ A nằm trong một ngách giao thông
hào làm bằng tre tươi, phía dưới ghép thêm những tấm bìa của những thân cây gỗ
lớn, đắp trên nóc, đất cát dày gần một mét lại thêm một lớp cây chuối to như những
cột nhà lát khít mặt trên cùng ấy thế mà rung chuyển như muốn hất tung lên. Gío
bụi, khói bom đen trắng từng luồng thổi tạt vào, bụi đất cát quyện lẫn trong khói
thuốc súng phả vào mặt mọi người sặc sụa, khó thở. Bầu trời, không gian làng quê
đen kịt vì khói bom.
Lại hai ba điểm sáng xanh, đỏ, dập dờn, dần
to, sáng lớn. Những chiếc máy bay phản lực F4, F105 từ đâu lao đến. Một loạt
bom rơi trúng vào khu chăn nuôi trang trại của HTX nông nghiệp Thượng Thắng làm
cho 24 con trâu cày kéo và một số người không kịp xuống hầm bị mưởng bom cắt bị
thương, trong đó có anh Nguyễn Viết Thuận bạn học với tôi từ lớp 1 đến lớp 4.
Do vết thương quá nặng anh đã tử vong trong đêm.
Và như mọi người nhận thấy càng vào những ngày
miền Nam đánh thắng, giặc Mỹ càng leo thang ném bom, đánh phá nhiều ở miền Bắc ác
liệt hơn. Nghĩa Đồng nói chung, làng Sen
nói riêng cùng trong hoàn cảnh đó. Dường như ngày nào cũng có những vụ máy bay Mỹ ném bom, bắn phá bến phà. Bọn
trẻ chăn trâu cũng như chúng tôi (lúc này đã là thanh niên) đã dày dạn máy bay đến
mức xem thường chúng, không sợ hãi như trước. Mỗi khi nghe tiếng kẻng báo động,
tiếng còi rú của trạm phòng không trực chiến, tiếng máy bay giặc gầm rú là kéo nhau
chạy xuống gần bến phà để xem đạn pháo của ta bắn trả kẻ thù và khi chúng thả
bom xuống sông mà bắt cá (tất nhiên là đi dưới giao thông hào, có ngụy trang và
đội mũ rơm).
Chiến tranh ác liệt, bom đạn đối với người lớn
là nguy hiểm, là mất mát, lo âu. Nhưng với lũ trẻ chăn trâu lại bất chấp tất cả,
gần như chúng chẳng sợ hãi gì. Chúng rất khoái chí khi được chạy từ nơi này qua
nơi khác dưới các giao thông hào để xem máy bay trút bom xuống gành Vực Lồ (nơi
không có phà cất dấu mà chỉ là một hòn núi
đá, trên đỉnh có đền thờ). Và để thấy rõ hơn đạn pháo của ta bắn trả máy bay địch.
Nhất là khi được giao nhiệm vụ là đội viên thiếu niên đi chặt cành cây xanh ngụy
trang cho xe pháo.
Có đêm máy bay địch thả pháo sáng, bọn trẻ chạy
theo hướng chiếc dù đang từ từ rơi, rồi
chờ pháo tắt, dù rơi xuống là chạy đến tranh giành chia nhau mỗi đứa một dạu (một
mảnh, một chéo) làm khăn quàng hoặc để nguyên dùng chung, khi nhà nào có công
buổi gì như đám tang, đám cưới căng giữa sân thay cho rạp (nếu ban ngày thì phải
dựng rạp trên lợp tranh để tránh mưa nắng và máy bay, dưới căng chiếc dù như một
chiếc ô rộng lớn).
Có bạn hay tếu, đùa vui nói rằng: Làng Sen từ
sau ngày đêm bắn phá mục tiêu không đạt mục đích gì bọn giặc lâu nay gần như tránh
xa, không một quả bom, viên đạn nào bén mảng đến. Máy bay Mỹ chỉ bắn phá khu vực
phà, cách làng xóm và nơi cư trú vài ba cây số. Tất cả rồi sẽ qua đi trong sự thích thú, hiếu kỳ
của bọn trẻ chăn trâu, nếu như không có trận oanh tạc ác liệt xẩy ra vào một ngày
trung tuần tháng bảy năm 1966.
Theo quy luật và thói quen, cứ vào lúc mặt trời
nhô lên khỏi núi khe Thần, khe Đá Mài giáp ranh Ba Xanh, Ba Quanh, động Cầu địa
phận huyện Yên Thành là vài ba máy bay phản lực cường kích từ Cồn Mối đồng Bàu
bay đến. Chúng nhằm vào giữa hai ngọn núi Cồn Đền và Cồn Vè mà lao tới, cắt
bom. Vì đây là trọng điểm quen thuộc của bọn giặc lái Mỹ, nay lại thêm con đường
mới, đường 15B đi qua. Một lần hai tốp gồm sáu chiếc máy bay lướt qua. Chiếc máy
bay thứ ba của tốp hai đã lọt vào tầm ngắm của khẩu đội 12ly7, cùng lúc các nòng
súng CKC, K44, liên thanh đồng loạt nhả đạn. Chiếc máy bay như bị cắt đuôi, một giải khói đen phụt ra phía
sau. Tổng đài quan sát Mua ,Cua, Cây Thị , Đội Bãi thông báo máy bay không theo
hướng Động Sú, Hốc Sắn cùng tốp bay về hướng Tây mà đến Hóc Bà Nghiện quay ngoắt
lại Bụi Hóp, theo hướng Đồng Kho, Động Dài xã Nghĩa Dũng lướt triền núi Yên Thành
lao thẳng ra biển Đông, có thể nó đã bị thương. Các khẩu đội phòng không, trực
chiến vẫn không rời vị trí, sẵn sàng nhả đạn khi kẻ thù quay trở lại.
Khoảng hai, ba giờ chiều, từ phía Đông, những
chiếc máy bay như những chấm đen, những con én, con quạ, rồi như những con diều
hâu cứ to dần, đậm dần đã lọt vào tầm ngắm của các xạ thủ . Những
con ma, thần sấm đã lướt qua. Một chiếc phản lực rít qua ngọn núi Cồn Vè. Các
pháo thủ, xạ thủ chưa kịp điều chỉnh cự ly, hướng ngắm, nó đã quay ngoặt lại bay
theo sườn núi Cồn Đền dọc đường quốc lộ 15 qua Cồn Ngô, H47 bay thẳng lên Nghĩa
Khánh hướng Truông én, Cát Mộng rồi quay ngược chiều hướng, như đang trinh sát
tìm kiếm mục tiêu. Làng Sen nằm trong vòng phong tỏa, tiêu điểm hủy diệt của không
quân Mỹ.
Đột nhiên, từ hướng Đông xuất hiện hai chiếc máy
bay F4 vừa đến tầm đỉnh Cồn Rô bên đường mới đã chúi xuống vừa cắt bom, vừa bắn
rốc két bắn phá ác liệt xuống Làng Sen và bất kỳ điểm nào chúng nghi là mục tiêu.
Thì ra kẻ địch đã phát hiện ta đang chuyển vũ khí đạn dược từ kho dự trữ cất dấu
hàng quân sự H47 sơ tán đến một vài địa điểm trong xã chuẩn bị vũ khí đầy đủ
cho những trận chiến đấu tiếp. Cùng với các đơn vị bộ đội phòng không, bộ đội địa
phương, lực lượng dân quân, cán bộ và nhân dân xã Nghĩa Đồng mà đông đảo là dân
Làng Sen xông pha dưới làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù vừa đánh trả, vừa vận
chuyển đưa hàng trăm tấn hàng quân sự đến nơi an toàn. Tất nhiên không tránh khỏi
những mất mát, đau thương. Trong bao cuộc ném bom oanh tạc của máy bay Mỹ, bao
trận chiến đánh trả của quân dân ta suốt gần hai năm nay, không ít những chiến
sĩ bộ đội, quân dân tự vệ, công nhân bến phà đã hi sinh và cả những người dân
lam lũ trên đồng ruộng cũng đã đổ bao xương máu, ngã xuống bởi đạn bom thù...
Những chùm bom như những con én đang bay
ngang bỗng chúi xuống lao vun vút xuống bến phà, phía trận địa pháo phòng không.
Tiếng nổ của bom đạn, tiếng rít điên loạn của động cơ phản lực, của những thần
sấm, con ma gầm rú. Hai bên đường mới, dọc dòng sông đầu trốc Vực nghi ngút khói
bom. Bỗng một tiếng hô vang, giọng điệu reo vui:
- Bắn trúng rồi, máy
bay địch cháy... một chiếc F4 bị thương,
lửa, khói phun phía sau đuôi nó. Nó đã quay hướng qua Nại Sen Đồng vào Gia Lợn Động
Dài rồi quay ngoặt qua đỉnh núi Mảng Cù lao nhanh về hướng Đông ra biển .
Máy bay địch bay xa,
cùng lúc còi loa ở đài quan sát, kẻng trực chiến của dân quân báo yên. Mọi người đứng lên miệng hầm, trên mô đất mép
giao thông hào đang nhìn những cột khói tỏa rộng, ngút cao đang dần tan và vệt
khói của chiếc máy bay bị thương mờ dần, mờ dần rồi biến mất . Bên kia sông từ đồng
Soi, Hác Ráng, Bãi Đào những người chăn trâu đang lùa trâu qua sông, hầu hết
qua động Bến Xâu Lươn và Hủng Mưng. Chỉ một số ít thường chăn dắt cho trâu ăn ở
Bãi Đào trên gần Trốc Vực và thường quen cho trâu về qua động Bến Phà. Bởi lâu
nay theo quy luật thường sau trận ném bom, bắn phá ác liệt phải dăm ba tiếng đồng hồ có khi hơn chúng mới quay lại. Hôm nay lại
khác, kẻ địch địch thay đổi chiến lược, sau còi báo yên khoảng 15, 20 phút, số
người lùa trâu qua bến Phà mới ra đến bãi Rì Rì trên bãi cát giáp mép sông bỗng
máy bay địch lại lao đến ném bom có thể nó đã phát hiện mục tiêu mà chưa bắn phá
được hoặc quay lại kịp trả thù cho chiếc máy bay bị thương chăng? Bầy trâu đen
có, bạc (trắng) có nhốn nháo chạy, chạy toán loạn. Một chiếc phản lực lao chúi
xuống cắt bom bay rà thấp gần như sát đỉnh Cồn Đền. Một chùm bom rơi xuống hầu
hết rơi vào lèn đá nơi có con lạch sâu vào đất liền bắc cầu phà cho xe lên xuống
đường, phà. Một quả bom không hiểu mới rơi xuống hay loại bom từ trường, nổ chậm
phát nổ tại bãi cát nơi bầy trâu vừa chạy qua hất tung một số người. Trong đó có
một cụ già 70 tuổi, một thanh niên và một cô bé 10 tuổi. Đó là ông Miên Duốn nhà
ở Nam Giang mới chuyển qua Hoa Bắc, bị
bom phạt người nằm vắt qua mô đất dưới cây giưới, một chân bị cắt văng gác trên
cành cây giưới cách người 3 mét, máu me tung tóe đỏ bầm một vùng cỏ dăm ba mét
vuông. Khi chúng tôi đến nơi ông đã tắt thở. Đó là Võ Duy Thạch ở xóm Hoa Bắc,
chết nằm gần hố bom, đứt ngang bụng toàn bộ nội tạng đều tuồn ra ngoài, khi đưa
xác vào quan tài tôi và Trần Đình Hán phải dùng tay bốc ruột cho vào bụng, anh
Phạm Văn Chu phải sắp xếp tim, gan, phổi, cật, ruột theo thứ tự. Tất nhiên có
loại bị dập nát, mất mát không thể đầy đủ được, thật là đáng thương, thật là rùng
rợn. Đó là em Trần Thị Lợi, con gái ông Trần Chắt Tiếu ở xóm Nam Tiến, rất may
cho em chỉ bị hai vết thương nhẹ, phần mềm. Một bị mảnh bom cắt một miếng thịt ở
bả vai, một miếng bắp chân phải. Em bị ngất không phải vì vết thương máu ra nhiều
mà vì quá sợ hãi. Băng bó tiêm xuống xong em tỉnh, vài ba hôm là vết thương lành trở lại bình thường. Đây cũng
là một ngày không thể nào quên của chúng tôi và nhất là bọn trẻ chăn trâu. Bọn
chúng quá “khiếp vía”, từ nay không dám chăn trâu Trốc Vực, bãi Đào Trên và lùa
trâu về động Bến Phà nữa và khi có máy bay không chủ quan khinh thường như trước
và đều tránh lách vào hầm hào, gò đất, gốc cây
tiện nơi nào kín đáo.
Được mệnh lệnh qua chỉ thị của thường vụ Đảng
ủy xã, BCH Quân sự mà anh Võ Duy Mậu trực
tiếp truyền đạt cử một số dân quân là thanh niên khỏe mạnh, hăng hái, dũng cảm
vượt sông đưa các nạn nhân về. Chúng tôi là học sinh trong dịp nghỉ hè, có số đã
tốt nghiệp cấp ba đang trong thời gian chờ đợi đi đại học trong và ngoài nước cùng
tham gia công tác hè ở địa phương. Chưa là dân quân thực sự, không ai bảo ai đều
xung phong cùng tổ dân mà anh tôi Phạm Văn Chu, chủ nhiệm HTX Hoa Bắc chỉ huy, dẫn đầu chạy ngay xuống
bến Phà lội qua bên kia sông làm nhiệm vụ khẩn cấp.
Rất may là sau khi chúng tôi đưa thi thể các
nạn nhân về đến nhà, địa điểm làm lễ mai táng máy bay địch mới quay trở lại.
Tối đó, tôi không ăn
cơm, cứ bưng bát cơm lên là nôn, là sợ, đêm cũng không sao ngủ được. Hình ảnh
anh bạn Duy Thạch - cùng xóm, gần nhà xa ngõ mới hôm qua cùng đi làm phân xanh
với các xã viên HTX, tối cùng tham gia sinh
hoạt chi đoàn thanh niên vui đùa,
ca hát cứ chập chờn, lởn vởn trước mặt tôi. Một con người với vóc dáng thanh
thanh, trắng trẻo, gương mặt chữ điền, phúc hậu, mắt sáng, lông mày rậm, trông
khá bảnh trai,lúc này cứ bám sát tôi, đứng chặn trước mặt tôi, đôi mắt mở to,
nhìn trân trân, ruột gan tuôn ra khỏi bụng. Tôi quá hoảng sợ, la hét, chạy...Lòng ruột cứ
quấn chặt vào chân... Tôi nằm mơ thiếp đi
giấc ngủ chập chờn, lại mơ thấy...Một giấc mơ đáng sợ.
Trời rạng sáng. Mây mù, khói bom quện lấy
nhau bồng bềnh như bọt sóng trên dòng sông Sen, mỗi khúc lửng lơ trôi khi đổi
dòng va vào thành đá ghênh bọt tung tóe trắng xóa ... Cánh rừng già Cồn Vè,
Cheo Meo, Gia Lợn ôm lấy chân núi đá ghềnh Vực Lồ bao quanh Cồn Đền, bãi Cải Tạo,
Trốc Vực, Đầu Đập bị bon tàn phá sâu
những hố bom, trơ những gốc cây. Những thân cây cổ thụ: Dổi, lim, thị, sú, săng
lẻ bị phạt ngang, chẻ đôi, xơ xác, chưa chịu đổ đứng sừng sững như để đất trời
chứng kiến, đang thách thức với thời gian bom đạn. Vách đá dưới chân đền bên dòng
chảy của khúc sông bị nham nhở những vết thương, đá tảng bung ra rạn nứt .Những
mảnh bom như những lưỡi búa bổ vào thành đá bới tung những bụi cây rễ cây bám vào
đá, lâu nay sống nhờ vào đá ... như một dấu chấm đen điểm trên bức tranh thiên
nhiên. Đó là một trọng điểm của máy bay, bọn giặc lái Mỹ.
Khẩu đội 12ly7 nghi bị lộ mục tiêu, lệnh cấp
trên chuyển lên quả đồi khu vực phía trên Trốc Đập, dốc Cồn Vè đón chặn máy bay
địch, bảo vệ khu vực bến Phà và tuyến đường mới 15B.
Từ trên đỉnh núi Cồn Vè nhìn xuống, phóng tầm
mắt lướt qua cánh đồng Bắn, đồng Vòng, ngược lên Trốc Vực xuống Bãi Đào, Hác Ráng,
đồng Soi ... như một tấm thảm đủ sắc màu. Những bãi ngô đã thu hoạch còn trơ lại
bẹ (vỏ bắp) ôm lấy thân cây đã trắng khô xen lẫn là những thửa ngô chưa thu hoạch
vàng óng trong những đám cỏ săng, cỏ lô ác đang xanh. Rải rác những hố bom khoét
sâu, nông cạn vành quanh là những đụn đất, cát đỏ vàng loang lổ khắp hai cánh đồng
Bãi Đào, Hác Ráng trên. Đỉnh núi Cồn Đền vươn cao, oai nghiêm, phong độ, bề thế
như một nhân chứng lịch sử, một điểm tựa vững chắc bao che cho những chuyến phà
khi trọng tải hàng hóa qua sông.
ẨM THỰC LÀNG SEN
Nói đến ẩm thực làng Sen có nhiều thứ khá
phong phú. Ở đây tôi chỉ nói đến hai món ăn tiêu biểu có nhiều kỉ niệm ấn tượng
sâu sắc với tôi đó là Ngô và Măng
*
* *
Ngô- đặc sản quê
tôi.
Làng Sen từ xưa đã
có thứ lương thực chính là ngô. Bởi thế hầu heetgs diện tích đất trồng màu đều
trồng trỉa ngô có thể nói cánh đồng ngô trải dài bao quanh làng xã. Hai bên bờ
sông Sen là những bãi ngô xanh tốt, vàng óng. Ngô Bãi Giang, ngô Đồng Bàu, ngô
Bãi Đào, ngô Hác Ráng, ngô Đồng Soi, ngô Đồi Bãi, ngô Trốc Vực, ngô Xâu Lươn,
ngô Cổ Kiềng, ngô Hủng Mưng, ngô Đồng Thang, ngô Bãi Sải, ngô Vực Vàng, ngô Bãi
đá ( Sau này thuộc địa phận xã Nghĩa Thái)
Chả thế mà khi mùa ngô đến, lúc giáp hạt,
thiếu ăn dân dưới xuôi, đủ các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương,
Thanh Chương thường lên Sen mót ngô, mua ngô hoặc đưa các loại hải sản như Cá
Tôm, cua Mực, nước mắm lên đổi ngô
Trước đây Làng Sen Nghĩa Đồng quê tôi chỉ có
những nhà khá giả, giàu có mới có gạo ăn ( tất nhiên vẫn độn ngô) còn nhà nghèo
chỉ có ngô khoai ( có chăng một hạt gạo độn hàng trăm hạt ngô)
Các bậc cao niên trong làng kể lại: ;Có nhiều
gia đinhg cố nông quá nghèo đói suốt đời lam lũ cực nhọc quanh năm “đầu tắt mặt
tối”, “ bán mặt cho đất bán lưng cho trời” cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc.
Bữa ăn thường ngày chỉ có ngô vẫn không đủ no. Tuy thế ăn mãi vẫn chán, cho nên
ngô được chế biến đủ mọi cách.
Có nhiều loại ngô, ngô tẻ hạt vàng, ngô tẻ
hạt trắng, ngô tẻ hạt to ( ngô răng Ngựa), ngô nếp ( báp nhỏ hơn ngô tẻ, dẻo
thơm, có khi pha hạt tim tím)
Ngô được ăn từ khi còn non( đang ngậm sữa)
đến lúc ngô già phơi khô cất giành (có thể để cả bắp buộc thành chùm treo lên,
hoặc đập, phẻ thành hạt cho vào chum, bồ, đậy kín)
Ngô non (vừa
luộc) vừa lấy về còn tươi
+ Ngô luộc(để cả vỏ hoặc bóc vỏ khi hạt ngô đã to hơi cứng) đơn giản và
thông dụng nhất
+ Ngô siết (cháo ngô) dùng dao nhỏ lưỡi mỏng sắc thái dọc bắp cắt ngang hạt
đến sát cùi. Đun sôi kỹ cho muối gia vị vào. Thích ngọt cho đường, mật (gọi chè
ngô. Nếu có đậu, lạc hoặc hạt Sen vào càng tốt. Ngày ấy những gia đình nghèo
khổ làm gì có các loại này) món này rất bổ dưỡng
Ngô vừa nướng (không non, không già đã lột
vỏ) được chế biến:
+ Ngô nướng: Bóc vỏ cho vào than ( không để sát than dễ bị cháy sém). Ngày
nay thường để ngô trên vỉ sắt đăth trên than hồng nhưng ngày ấy làm gì có vỉ
sắt, thường đặt trên tro nóng trước bếp có củi than đang cháy xoay trở liên
tục, khi ngô chín vàng cánh gián là được
+ Ngô sấy ( ngô hấp) khở vày ra hạt luộc vừa chín tới đem phơi khô cho vào
chum vại khi ăn rang lên, ăn giòn thơm bùi hấp dẫn ( hoặc giã nhỏ trộn đường
mật giống chè lam làm bằng bột nếp) thứ ngô sấy này làm lương thực khô cho ngày
ba tháng tám giáp hạt
+ Ngô hầm: Để nguyên hạt cho vào nồi nước đun chín khi hạt ngô mềm nở toe
là được ( ngon hơn khi có đậu lạc cho vào)
Ngô già (Hạt ngô không còn sữa, đã cứng, phơi khô). Loại ngô này được
chế biến nhiều món ăn thông dụng hơn
+ Ngô hầm tro (hay
còn gọi là ngô bung) chủ yếu là ngô nếp. Cho ngô vào nồi đầy nước, một ít tro
bếp pha thêm ít nước vôi trong (nước vôi đã lắng) – tùy theo lượng ngô nhiều
hay ít mà pha chế tỷ lệ thích hợp. Đun sôi chín và cho vào rổ rá, đãi kỹ cho
sạch nuwowca tro và vôi, cho rụng hết mày (chân hạt ngô nơi cắm vào cùi). Rửa
sạch để ráo nước, cho vào nồi đổ nước vào đun kỹ, cho đậu, lạc vào khi nào hạt
ngô nở to bung ra là được- thứ này gọi là xôi bắp.
+ Ngô hầm (còn gọi
là ngô nục) : Ngô sau khi giã, xay lấy loại to nhất (nằm trên sàng) cho vào nồi
đổ nhiều nước đun sôi kỹ cho đậu, lạc, đun nhỏ lửa, chín nhừ nêm muối vừa ăn.
+ Ngô ỏm ( loại lọt
sàng đem dần nằm trên dần) Hơi lỡ cỡ nếu hầm hạt quá nhỏ, để thế độn gạo lại
quá to, khi nấu hạt gạo chín ngô chưa chín nên trước khi nấu cơm cho ngô vào
nồi đun chín. Khi hạt ngô vừa chín đem đổ ra rá vo kỹ bằng nước lạnh (rửa), sau
dod độn vào gạo nấu thành cơm
Cơm ngô.
+ Ngô tấm (ngô nhỏ):
Loại ngô khi sàng, dần (lọt dưới dần) độn trực tiếp với gạo nấu cơm bình thường
cơm ngô.
+ Ngô tấm (ngô nhỏ)
: Loại ngô khi sàng,dần (lọt dưới dần) độn trực tiếp với gạo nấu cơm bình
thường
cơm ngô.
+ Cháo bột ngô: Loại
bột mịn. Khi dần sàng xong đem rây (loại lưới nhỏ). Đun nước sôi cho bột vào
quấy đều (như nấu hồ bột gạo)- Phải nhỏ lửa, quấy đều tay, liên tục, nếu không
sẽ dính nồi, bị khê (cháy), cho vào ít muối vừa ăn. Chín cho vào bát. Nếu loãng
gọi cháo bột ngô (hồ bột ngô) – Đặc có thể lấy dao cắt được gọi “Bánh đúc ngô”
- Nếu muốn ăn ngọt cho đường hoặc mật mía thành “chè ngô”. Dù loại nào, ăn kiểu
gì cũng phải thêm tí muối mới đậm đà, dễ ăn, ngon miệng hơn.
Nhiều món ăn như vậy, nhưng thời trước cơm độn
ngô và nhất là ngô hầm đã quá quen thuộc, bữa ăn thường nhật của dân quê tôi (
như đã nói ở phần trên)
*
*
*
Tuổi thơ tôi có biết
bao kỷ niệm về ngô - nhất là các món ăn
dân dã và quen thuộc như trên. Nhưng ấn tượng nhất, khắc sâu nhất là ngô hầm
tro – “xôi bắp”. Bởi đây là món ăn thích nhất, có nhiều kỷ niệm nhất đối với
tôi.
- Xôi bắp: Món điểm tâm, ăn sáng bình dân quen thuộc bây giờ, nhưng ngày
trước là món ăn xa xỉ, hiếm có ở quê tôi. Bởi thời đó ngô cũng chỉ được dùng
cho bữa ăn chính là ngô hầm, khá giả có đôi bữa cơm độn ngô, làm gì có ăn sáng!
Nói là cơm ngô nhưng thực ra một hạt gạo cõng hàng trăm hạt ngô (đã giã nhỏ)
Nhà khá giả, giàu có, địa chủ mới có nhiều gạo – ngược lại với bây giờ: khá giả
mới mua được ngô, mới có ngô ăn.
Thời đi học, đến khi lên cấp 3 học ở thị trấn
Thái Hòa – Nghĩa Đàn tôi mới được ăn sáng bằng xôi bắp – Nhà nghèo, lại đi học
xa không đủ tiền ăn bát phở (3 hào), bánh mì sốt vang hoặc cốc sữa bánh mì (2
hào), trong khi mẹ chỉ cho mỗi buổi sáng một hào (Hai bữa ăn chính đã có lương
thực và thức ăn mang theo ( muối vừng, măng muối mặn, ít tép riu...). 1 hào
được một bát con (loại bát dùng ăn cơm nhỏ nhất) xôi bắp. Tuy ít nhưng vừa tiền
với lại tôi cũng thích, nhất lại chắc dạ hơn có thể no đến tận trưa, ngồi học
được cả buổi.
Mỗi buổi sáng khi tập thể dục, vệ
sinh cá nhân đánh răng, rửa mặt xong, tranh thủ ôn lại bài là nghe thấy các bà
cô hàng quà sáng điểm tâm quảy gánh bán rong “ai xôi bắp” là gọi vào (hoặc nếu
muộn ra các vỉ hè). Xôi đang trong nồi hoặc đựng trong thúng, mủng, rổ, rá bằng
tre, dưới đáy có lót lá chuối tươi. Thường đậu xanh nấu chín giã nhỏ để riêng,
khi nào ai mua cho vào bát mới cho đậu vào thêm ít hành khô phi mỡ vào trộn
đều. Nếu chỉ có lạc, đậu đen, đậu đa (loại đậu hạt to hơn đậu tằm) đã sẵn trong
ngô.
Có thể nói đây là món ăn khoái khẩu,
hợp khẩu vị của tôi. Vì tôi sinh ra đã được ăn ngô, ngô đã nuôi tôi lớn lên,
trưởng thành...
Nay thỉnh thoảng về quê, các cháu
con anh cả, chị đầu biết ý tôi thích ăn ngô; xem chừng ngoài đồng còn ngô (nếu
non bẻ về luộc, hơi già nướng, rang) hoặc lấy ngô già đãphơikhô, cất giành ăn
dần đem ra nấu, nhất là ngô nếp thêm đậu, lạc, ít gạo nếp...thành xôi bắp đãi người
xa quê lâu ngày về...
* *
*
Nếu ngô là thứ lương thực đặc trưng thì măng
là thức ăn đặc sản.
Măng: món ăn dân dã, đặc sản quê tôi. Đượm nét
đẹp văn hóa ẩm thực, đáng trân trọng, mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Coa nhiều loại măng: Măng tre, măng giang,
măng nứa, măng mét, măng đắng – Mùa măng, món ăn thường nhật trong gia đình.
Nhiều món ăn được chế biến từ măng
Măng luộc:
Các loại măng đều luộc và chấm ruốc (mắm tôm) là món ăn dân dã, phổ biến có sức
hấp dẫn
Chọn loại mậm (bắp) măng mới nhú khỏi mặt đất
khoảng vài ba phân là tốt nhất bởi còn non mềm và ngọt, nếu măng cao hơn chỉ
lấy phần ngọn còn phần gốc đem cắt muối.
Măng còn tươi non bóc bẹ (vỏ ngoài), thái mỏng
phần gốc, phần ngọn chẻ dọc (nếu là măng giang, măng đắng), măng nứa có thể để
nguyên búp luộc xong khi ăn chẻ nhỏ cũng được vì loại măng nứa mỏng.
Riêng măng tre, măng mét phần gốc đặc có thể
cắt dày để muối, phần ngọn dùng dao mỏng, sắc băm dọc búp và thái dọc thành sợi
dài. Tùy loại búp măng mà thái, chẻ to nhỏ cho thích hợp. Đem luộc cho nước sôi
lút măng, khi măng chín vàng không còn mùi hăng (dạng còn sống) là được. Vớt
măng cho vào rổ, rá để ráo nước.
Măng luộc dùng không hết có thể ngâm nước lã
cho ít muối có thể dùng lâu hơn nhưng chỉ để xào, nấu còn muốn ăn luộc tiếp
phải luộc lại, nhưng không ngon vì đã có vị chua.
- Măng luộc xào: Xào mỡ, xào với các loại
lòng gia cầm, súc vật: gà,vịt, ngan, ngỗng, lợn, trâu, bò. (bình dân, quen
thuộc, phổ biến).
- Măng luộc nấu kho cá biển: Dân gian có câu
: “ Cá đồng nấu khế, cá bể nấu măng” ( đơn giản, dân giã) cho măng và cá vào
nồi đổ nước vừa phải thêm mắm muối đun sôi kỹ ( ngon hơn loại nào cũng vậy cho
thêm tí ruốc hôi khi chưa đun nóng miếng măng sẽ ngọt đậm đà hơn).
- Măng chua (chủ yếu măng tre, măng mét)
Phần gốc thái mỏng ( loại ống già) phần ngọn
dùng dao băm dọc thái dọc đem ngâm nước vài ba ngày là được.
Thành phẩm màu trắng, vị chua thích hợp với
món thịt vịt (hoặc cò đồng), cá tượi, lòng bò. Mùa hè có món măng chua nấu với
các loại này thì thật là thú vị.
- Canh súp
măng (măng giang, măng nứa) : Lấy phần ngọn non, thái mỏng (thái ngang thành
sợi) ngâm nước khoảng vài ba tiếng đồng hồ, vớt ra để ráo nước, đun sôi, chín
cho bột gạo (đã đâm xay, giã nhỏ) vào nấu chín cho gia vị mắm muối vào gọi là
món “canh bồi” quê tôi.
- Măng muối:
Măng muối mặn là món ăn thường ngày của tuổi thơ tôi, quê tôi. Mẹ tôi là người
đi lấy măng rừng nhiều nhất, lâu năm nhất. Lấy măng đã thành nghề của mẹ cũng
là nguồn thu nhaaph chính của gia đình tôi thời đó. Mỗi lần đi rừng lấy măng về
là rất nhiều người đến mua. Vì măng mẹ lấy tượi non, giá cả phải chăng, người
th ân quen còn cho thêm. Mẹ đi rừng lấy măng giỏi về chế biến cũng không thua
kém ai. Từ măng luộc, măng chua đến măng muối mặn đều có cách làm tốt.
- Chế biến
loại măng này cũng không khó lắm. Búp măng cũng không phải chọn cầu kỳ như măng
luộc, miễn là măng còn mềm, dao thái được và gần như chỉ phần gốc, ống và cũng
chỉ thích hợp với măng giang, tre, mét. (chủ yếu măng giang)
Măng lấy về, phần ngọn luộc, phần
gốc thái vừa phải. Loại gốc, ống cắt khoảng vài ba phân (nếu ống to chẻ đôi,
chẻ ba...) rửa sạch để ráo nước cho muối vào theo tỉ lệ, đảo đều.
Ngô già đã khô khén đem rang chín
(không để ngô cháy) xay hoặc giã nhỏ, gọi là thính. Khi cho măng vào lon, vại
(măng đã ướp muối) trộn thính vào ( một lớp măng rắc một lớp thính). Có thể cho
vài quả ớt tươi, ướp khoảng 10,15 ngày là ăn được. Khi nấu măng nếu có cá tươi, cá tép,
tôm lẫn vào càng tốt. Măng muối để lâu càng ngon, càng đậm đà hấp dẫn.
Mùi măng đặc trưng: Hăng hăng mùi
măng, thơm thơm thính bột ngô rang, mặn mặn cay cay vì mắm muối, ớt khi ăn nếu
có rau lộc mưng (lộc vừng), rau mét mà cặp, chấm nước măng thì tuyệt.
Nay lâu lâu về quê, chị dâu và các
cháu cũng thường nấu bát canh măng, nhất là món măng muối mặn. Bưng bát cơm, ăn
miếng măng muối mặn nhớ lại những dấu ấn trong tâm khảm của mình. Ăn miếng măng
dù mặn nhưng lại cảm thấy ngon miệng hơn, ăn được nhiều cơm hơn và cảm nhận
ngon hơn cả miếng thịt lợn luộc, thịt lợn kho tàu loại lợn đại bạch nuôi bằng
cám tăng trọng.
Và dường như không phải chỉ ăn
miếng măng mặn đặc sản quê nhà mà còn được thưởng thức cả ký ức tuổi thơ đối
nghèo nhưng ấm cúng, đậm đà hương vị quê hương.
Chương II
Làng
( Những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập
kỷ 90 của thế kỷ trước)
Nói là làng nhưng không
có nhà, không vườn tược, tường rào che chắn mà từ đầu làng đến cuối làng chỉ còn
dấu tích ngôi đình sen bề thế xưa nằm đơn độc giữa cánh đồng mênh mông và rải rác
những đống gạch đá, ngói nát của những nhà xây cấp bốn còn vương vãi chưa chuyển
hết...Đâu còn những con đường hẻm liên gia, những con đường phân cách, giáp
ranh giữa các xóm Thượng Thắng, Xuân Liên, Hồng Yên, Đông Giang, Đại Giang, Hoa
Bắc, Nam Giang, Tây Tiến, Liên Khê...Đâu còn những bàu, ao, bờ tre, những hàng
cây, bụi chuối, những mảnh vườn, những ngôi nhà lợp ngói, sân gạch, xen lẫn những
mái nhà tranh vách đất...Đây đó chỉ còn lại một giải đất kéo dài từ Cồn ngô qua
Bãi Giang, xuống Đội Bãi qua Lòi- Vực Lồ nằm ép mình khiêm nhường hai bên đường
quốc lộ 15, xưa dân quê tôi gọi là đường cái quan và phía Đông vẫn con sông Con
ép dần làng về phía Tây, sát kề bên là những bãi cát, những cánh đồng phù sa màu
mỡ...
Chiến tranh, tránh sự oanh tạc của máy bay giặc
Mỹ, một số xóm gần trọng điểm thường xuyên bị ném bom của kẻ thù phải đi sơ tán,
sự lở dần phần đất các xóm ven sông và nhân dịp có phong trào “Nông nghiệp lên đường
lớn”, “ Sắp xếp lại giang sơn” làng Sen- chuyển dời lên Eo Đế. Một số hộ gia đình
hầu hết dân Nam Tiến, Liên Khê chuyển qua khu vực C.T.3 (khu vực trại giam số 3
của bộ công an) bên Cồn Đền, Trốc Đập, Hóc bà Nghiện giáp giới Nghĩa Hợp...
Những thửa đất mấy năm trước đây còn nổi lên
những đống gạch đá, ngói vỡ chồng chất, những thân cây đã đốn còn trơ gốc, những
mảnh vườn cỏ mọc um tùm nay đã đổi thay. Toàn xã Nghĩa Đồng nói chung, làng Sen
nói riêng đã thực hiện kế hoạch sắp xếp, ngăn bờ vùng , bờ thửa để vừa có ruộng
lúa nước, vừa có đất trồng màu mà chủ yếu là các thứ đặc sản: Ngô, khoai, đậu,
lạc,vừng... Nay đứng ở đầu làng (Cồn Ngô). Tại cổng chào “Làng Sen mới” nhìn ra
xa, phóng tầm mắt xuôi về phía Nam ,
né qua phía Tây một màu xanh mướt là những thửa ruộng lúa, là những bãi ngô xen
lẫn là những dãy vồng khoai, luống đậu,
lạc... trông thật mát mắt...Tôi thuộc thế hệ những người con sinh ra, lớn lên từ
nơi đây, đi học, trưởng thành, thoát ly. Nay về thăm lại cảnh làng quê, thấy quê
mình đổi thay quá nhiều theo chiều tiến triển đi lên, lại được nghe giọng nói dịu
hiền ấm áp, tiếng hát ngọt ngào, trìu mến thân thương của những người thân càng
thêm yêu thương gắn bó...
Cái háo hức, cái ước mơ, cái ước vọng và hoài
bão của tuổi trẻ muốn được góp sức mình cho quê hương đã thôi thúc tôi, dục giã
tôi từ lâu và trở thành hiện thực khi đã thưởng thành: Viết về quê hương.
Nơi đây, tuổi thơ tôi gắn với bao kỷ niệm và
với những biến cố dữ dội của thời cuộc, với những trang sử vẻ vang của dân tộc.
Đó là nạn đói khủng khiếp năm 1945, là cuộc cách mạng Tháng Tám hào hùng dữ dội
thành công, nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa ra đời. Đó là 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược được
kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên lịch sử “ Lừng lẫy năm châu, chấn động địa
cầu”. Rồi cuộc cải cách ruộng đất chia lại ruộng cày cho dân nghèo, công cuộc xây
dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà...
Trước hết tôi nói về nạn đói năm 1945. Năm đó
đã đi vào lịch sử, đã ghi trong sử sách. Năm Ất Dậu, miền Bắc mất mùa, thóc gạo
Nhật vơ vét sạch. Tại mảnh đất này tôi được nghe kể và cũng là nạn nhân nỗi đau
khổ đói nghèo của gia đình, của xóm làng, chứng kiến nạn đói khủng khiếp đó.
Mẹ tôi kể những ngày tháng sinh tôi ra là những
ngày đói nhất, đói chưa từng thấy. Đó là những ngày đầu năm Ât Dậu còn khoét sâu
những nỗi đau sợ hãi, cái đói làm chết hàng triệu người. Cái đói diệt người đầy
ghê rợn và thê thảm đó cứ tiếp diễn trên những miền quê bé nhỏ, đói nghèo. Các
gia đình đã nghèo khổ lại càng nghèo khổ hơn, tất cả đều lâm vào cảnh đói rét,
chết chóc. Không còn gì để ăn, mọi người phải đi đào củ mài, củ nâu, lấy măng,
hái rau má, rau tàu bay, rồi mò cua bắt ốc và bất cứ thứ gì, củ gì, lá gì ăn được
cầm hơi để qua ngày, đoạn tháng...Cuộc sống cùng quẫn, túng thiếu, cái đói rình
rập, dày vò,đe dọa mọi gia đình, mọi con người. Cái đói gay gắt, kéo dài lê thê,
chết chóc ngày một nhiều hơn, thê thảm, rùng rợn hơn...Nghe đâu nhiều nơi, nhất
là ngoài Bắc có những gia đình chết không còn một ai. Người chết quá nhiều không
có người đưa đi chôn nằm rải rác ngổn ngang bên vệ đường, xó chợ. kẻ sống thoi
thóp, người chết nằm kề bên nhau la liệt, chồng chất. Riêng gia đình tôi lại thêm
một nỗi khổ hơn mọi gia đình bởi mới dưới xuôi lên không nhà cửa, không một tấc
đất phải đi ở đỡ. Bố lại đi hoạt động cách mạng nằm vùng bên Làng Ga, có khi lên
cả vùng Đồng Đải, Nghĩa Khánh, ít khi về.
Những ngày mẹ ở cự, không có gì để ăn, bố đi
hoạt động kiếm được thứ gì hoặc ai cho gì ( khi mớ khoai, bắp ngô, khi nắm rau
lang, rau má, lúc con cá con tôm...) mẹ để giành cho anh chị tôi phần nhiều (
anh lúc đó 7 tuổi, chị 10 tuổi). Mẹ chỉ ăn chút ít cầm hơi và có tí sữa cho tôi
bú. Tôi lớn lên bằng những giọt sữa chắt chiu, gạn lọc từ những bắp ngô non, củ
khoai chạc, nắm rau má, rá rau lang, búp măng non, búp chuối rừng, và cứ thế tôi
lớn lên, cái đói nghèo vẫn đeo đẳng, giai dẳng. Tôi không quên những gì anh chị
tôi kể lại kỷ niệm của tuổi thơ hai người với bạn bè cùng trang lứa rong ruổi,
lặn lội, chui rúc trong các đám cỏ săng, lau lách, trong các lùm cây bớp bớp (
cây so đũa) trên khắp các cánh đồng Vòng, Đồng Bắn, Trốc Đập, Da lợn, Động Dài,
Bụi Hóp hái rau má, rau tàu bay, lượm quả gắm, quả sung, quả dâu da, quả sông,
quả khế về ăn hay lặn lội, hụp sâu dưới các ao hồ, suối lạch để bắt con trai,
con ốc, con cá, con tôm để nấu canh, nấu dấm cho có chút pơ rô tit nuôi sống
qua ngày. và những ngày đi mót những mẩu khoai, bắp ngô dưới nắng hè rát mặt để
có chút hồ tinh bột cầm hơi.
Những ngày tháng năm ấy (và cả những năm tiếp
đó) thường xong cái tết nguyên đán qua giêng hai đến “ ngày ba tháng tám” giáp
hạt, dân làng Sen quê tôi và các làng lân cận như làng Sẻ, làng Ga, làng Giang,
Bãi Đá, Đồng Nồi, Cồn Dổi đều gặp cảnh bữa no, bữa đói, rau cháo qua ngày. Dân
làng kiệt quệ lại thêm nhiều dịch bệnh. Bọn nhà giàu (Địa chủ, phú nông) “nhờ
gió bẻ măng” cho vay nặng lãi, bóc lột thậm tệ. Lại nạn kẻ cắp, kẻ trộm hoành hành.
Nay nhà này mất cái này, mai nhà khác mất cái kia, khi mủng thóc mới vay về chưa
kịp xay, khi thúng ngô chưa kịp giã, lúc con gà đang vừa nhảy ổ...Trớ trêu thay
đêm 30 tết nồi bánh chưng, bánh tét (chủ yếu là sắn, gạo nếp quá ít gọi là) đang
sôi trên bếp cũng bị kẻ trộm bưng luôn. Nghĩ lại mà xót xa, mà đau khổ, mà tủi
hờn, mà căm giận. Ngày tháng thời gian này mọi người, mọi nhà lầm lũi đi xa kiếm
sống. Nếu ai chưa từng sống trong cảnh đói năm ất Dậu 1945, chưa từng bị cái đói
năm giáp ngọ 1954 ở miền bắc nước ta thì thật là hạnh phúc.
Đầu năm 1945, trên toàn cõi Đông Dương nói
chung, đất nước Việt Nam
nói riêng chiến tranh thế giới thứ hai ngày càng lan rộng, dồn dập. Ngày kết thúc
Nhật đảo chính Pháp, nhưng lại đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, phe Đồng Minh
thắng lợi. Phong trào GPDT phát triển mạnh mẽ khắp nơi. Điều kiện thuận lợi đó,
nhân dân ta, đồng bào cả nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng CSĐD và chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại đã đứng lên làm cuộc CMDCND vĩ đại, đập tan xiềng xích nô lệ của
chế độ thực dân, đế quốc, phát xít tay sai, giành lại chính quyền về tay nhân dân.
Tại Làng Sen, từ khi xuất hiện các ban Việt Minh, đội tự vệ đỏ đã tạo thêm sức
mạnh cho cuộc khởi nghĩa và nhất là từ sau ngày ủy ban lâm thời Nghĩa Đồng- Nghĩa
Đàn được thành lập đã lãnh đạo nhân dân Làng Sen nói riêng, Nghĩa Đồng nói
chung tập trung mít tinh tại Đình Sen tuyên bố xóa bỏ chính quyền chuyên chế cũ,
thành lập chính quyền cách mạng, khởi nghĩa thắng lợi. Cách mạng Tháng Tám thành
công. Mùa thu cách mạng 1945 đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta. Đất nước bước
sang trang mới, thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, phong kiến. Như mọi làng quê
khắp trong cả nước, làng Sen quê tôi đã được thay da đổi thịt, người dân dạt dào
niềm vui sướng phấn khởi, quyết tâm giữ vững chính quyền cách mạng mới thành lập.
Với chúng tôi như một luồng gió mới, một luồng ánh sáng xua tan bóng tối trên
con đường cách mạng. Từ đây cuộc sống đói khổ lầm than, nạn đói khủng khiếp đã được
cứu vớt, làng Sen được đổi đời, người dân được làm chủ cuộc sống, làm chủ quê hương
đất nước mình...
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba
Đình lịch sử, dưới nắng vàng mùa thu Hà Nội dàn trải, chủ tịch Hồ Chí Minh thay
mặt chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập”
trước hàng vạn nhân dân thủ đô Hà Nội, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân đồng bào
và thế giới về sự ra đời nước VNDCCH, tuyên bố nước VNDCCH tự do, độc lập, khẳng
định quyết tâm, biểu dương lực lượng, sức mạnh và ý chí của dân tộc ta, của toàn
quân, toàn dân ta chiến thắng kẻ thù và quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do
cho dân tộc.
Có thể nói “ Tuyên Ngôn Độc Lập” là một
trang vẻ vang trong lịch sử Việt Nam, trong muôn vàn trang sử vẻ vang khác, đã
chấm dứt chính quyền dân chủ chuyên chế và chế độ thực dân áp bức, đồng thời mở
ra một kỷ nguyên mới của dân tộc, của đất nước...Đây cũng chính là trí tuệ và bản
lĩnh của chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã thể hiện được khí phách của cả một dân
tộc đang vùng dậy chống đế quốc, thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do cho
nước nhà. Với “Tuyên Ngôn Độc Lập” lần đầu tiên nước Việt Nam hiện diện trên trường
quốc tế với tư cách là một nước tự do và độc lập và nhân dân thế giới cũng thấy
được tinh thần, ý chí quyết tâm bảo vệ nền tự do, độc lập của dân tộc. Cách mạng
tháng tám và quốc khánh 2/9 còn khẳng định chân lý mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu
rõ :
“ Không có gì quí hơn
Độc lập, tự do”.
Nhưng rồi Độc lập, Tự do chưa được trọn vẹn,
thực dân Pháp phản bội quay lại nổ súng tấn công. Chiến tranh ngày càng lan rộng
khắp trên đất nước và ngày càng ác liệt. Trước tình hình đó, ngày 19 tháng 12 năm
1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân
Pháp. Cả “Đất nước đứng lên”.
Cùng với quân dân cả nước, nhân dân làng
Sen, đồng bào các dân tộc xã Nghĩa Đồng quê tôi cũng nghe lời kêu gọi sẵn sàng
chuẩn bị chiến đấu. Trước mắt củng cố lực lượng chính quyền còn non trẻ và chuẩn
bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến trường kỳ sắp nổ ra trên mọi miền quê tổ quốc.
Trên khắp các chặng đường, ở mọi cổng làng, thôn xóm, nhà hội quán đâu đâu cũng
băng cờ khẩu hiệu “ Tất cả cho kháng chiến”, “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng
lợi”...Cờ đỏ, sao vàng, tung bay đỏ rực khắp nơi...
Các chiến sĩ bộ đội quân phục chỉnh tề, quân
trang,quân dụng đầy đủ, vũ khí trong tay sẵn sàng đợi lệnh. Các cán bộ Việt
Minh, cán bộ kháng chiến quần áo, mũ nón, dày dép, súng ống, vũ khí...những “vật
bất ly thân” sẵn sàng tư thế...Các tổ chức đoàn thể chính quyền mới được thành
lập; theo sự phân công chỉ đạo của cán bộ Việt Minh, cán bộ kháng chiến, mọi người
dân quê tôi đều phấn khởi, vui tươi trào dâng niềm hạnh phúc , niềm tin tuyệt đối
vào cách mạng, vào kháng chiến và kháng chiến thắng lợi...
Tôi còn nhớ lúc bấy giờ vào cuối năm 1953 đầu
năm 1954, lúc cả nước đang dốc toàn bộ nhân tài vật lực, lực lượng cho tiền tuyến
để giành quyết định thắng lợi ở khắp các chiến trường, nhất là cho chiến dịch Điện
Biên phủ- lúc ấy tôi đang học lớp abc,i,t,t,i ti “đại học chữ to” chuẩn bị lên
lớp một. Chúng tôi chuyển học ban đêm đến các lán trại, đền, đình, nhà dân...Máy
bay địch hoạt động gần như ngày nào cũng có, các loại máy bay “khu trục” “bà già”
đêm thả pháo sáng oanh tạc vùng trọng điểm chủ yếu bến phà, đường sá. Ban ngày
ném bom, bắn ca nông vanh...
Rồi, bỗng một ngày của tháng năm lịch sử 1954,
chúng tôi đang giờ ra chơi (lúc này tôi học lớp 1) thì được nhà trường báo tin
“giải phóng Điện Biên phủ” và hôm sau thì biết rõ hơn, cụ thể hơn. Chiều mồng 7
tháng 5 năm 1954 toàn quân và dân ta đã tổng tiến công và tiêu diệt hoàn toàn tập
đoàn cứ điểm Điện Biên phủ- một cứ điểm mà tướng giặc NaVa đã từng tuyên bố “bất
khả xâm phạm”, bắt sống tên tướng Đờ Cát và toàn bộ quân pháp tay cầm cờ trắng đầu
hàng. Chiến dịch Điện Biên phủ thắng lợi hoàn toàn. Tin được truyền đi như ánh
hào quang rực sáng khắp mọi làng quê. Từ đó cứ hôm nào đến trường, giờ ra chơi
giải trí đứng vòng cả lớp, có khi cả trường nắm tay nhau nhảy hát bài “yêu hòa
bình tổ quốc chúng ta”, “ Giải phóng Điện Biên bộ đội ta tiến quân trở về...” rộn
rã vui tươi, trầm hùng, khí thế...( những bài hát, điệu nhảy quen thuộc phổ biến
thời đó).
Có thể nói chiến thắng to lớn Đông xuân
1953-1954, nhất là chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ “ lừng lẫy năm châu, chấn động
địa cầu” đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm
xoay chuyển cục diện chiến tranh, đập tan “kế hoạch Na Va” buộc thực dân Pháp
phải ký hiệp định Giơ-Ne-Vơ, công nhận nước ta là một nước độc lập, tự do, có
chủ quyền và hơn hai tháng sau, ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Giơ-ne-Vơ
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt nam và ba nước Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã sang trang sử vàng
chói lọi, mở ra thời kỳ lịch sử mới cho cách mạng, cho dân tộc Việt Nam . Đó là cuộc
cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, là cuộc đấu tranh với bọn đế quốc
Mỹ và tay sai bán nước ở miền Nam để giải phóng hoàn toàn miền Nam ,
thống nhất nước nhà. Đây c là cuộc đấu tranh cũng không kém phần gay go, khó khăn,
gian khổ...
Nhiệm vụ của chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền bắc lúc này cực kỳ quan trọng bởi những khó khăn, gay go, phức tạp
do hậu quả chiến tranh. Toàn miền bắc dấy lên phong trào thi đua cải tạo xây dựng
xã hội chủ nghĩa, khôi phục phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất đi đôi với giảm
tô, tiến hành cải cách ruộng đất ở nông thôn, cải tạo tư sản thành thị, làm cuộc
cách mạng dân chủ nhân dân...
Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, Bác
Hồ, toàn quân dân cả nước lao vào công cuộc khôi phục kinh tế ở miền Bắc, cử cán
bộ tham gia vào cuộc cải cách ruộng đất, đánh đổ giai cấp địa chủ, cải tạo giai
cấp tư sản. Nhiệm vụ của đội cải cách là phải nắm vững chính sách giảm tô, nội
dung từng bước của cuộc cải cách ruộng đất mà Đảng và chính phủ đã đề ra và phải
làm rõ cho người nông dân xác định đối tượng đấu tranh của mình là kẻ thù nào,
phương pháp phát động quần chúng nhân dân đấu tranh đánh đổ giai cấp địa chủ.
Trước hết bắt giai cấp địa chủ phải thực hiện
giảm tô, giảm tức, tiến hành cải cách ruộng đất, vùng lên đấu tranh đánh đổ toàn
bộ giai cấp địa chủ, tịch thu ruộng đất chia cho nông dân nghèo, thực hiện “người
cày có ruộng” ...sau đó hướng dẫn họ tổ chức các tổ đổi công (từ 10 – 15 gia đình)
luôn đổi công cho nhau- hôm nay gia đình này, mai gia đình khác- mỗi tổ cử tổ
trưởng, tổ phó để phân công điều hành công việc. Từ đó thiết lập các HTX nông
nghiệp.
Cuộc cải cách ruộng đất (CCRĐ)
Đầu những năm 50 của thế kỷ trước (khoảng từ
cuối 1953) Theo chủ trương của Bác Hồ và Trung ương Đảng về “vấn đề nông dân và
CCRĐ”, “Luật cải cách ruộng đất” đã được quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
thông qua trong kỳ họp thứ III, ngày 4 tháng 12 năm 1953 và ủy ban CCRĐ được
nhanh chóng thành lập ở cả hai cấp trung ương và địa phương. ở địa phương, các
tỉnh lập ra nhiều đoàn (tùy theo địa hình, số xóm và dân số). Mỗi tỉnh có mươi
mười ba đoàn, mỗi đoàn có khoảng 80 đến 100 cán bộ, có trưởng phó đoàn. Trưởng đoàn
nhận mệnh lệnh trực tiếp từ ủy ban CCRĐ, không thông qua hệ thống trung gian nào,
kể cả cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương. Mỗi đoàn lại được chia thành nhiều
tổ có năm, bảy đội viên phân bổ về các thôn xã. Đội trưởng được chọn trong số cán
bộ, bộ đội, đội viên gia đình bần cố nông nghèo khổ nhất là những cán bộ, bộ đội
được tôi luyện trong cuộc kháng chiến chống Pháp vừa qua. Đội trưởng có quyền hành
quyền uy lớn nhất, quyền sinh, quyền sát tuyệt đối, có thể “ tiền trảm hậu tấu”
và chỉ nhận chỉ thị, mệnh lệnh từ ban cải cách. Đội CCRĐ xã Nghĩa Đồng do huyện
Nghĩa Đàn chỉ đạo được thành lập, trong đó có số đội viên gồm các ông Cơ,ông Cẩu,
ông An, ông Môn, ông Toại và một số thành viên khác, mỗi thành viên được phân công
việc cụ thể về phụ trách từng xóm.
Trong quá trình làm việc, học tập trước khi
những cuộc đấu tố địa chủ diễn ra, các cán bộ đội cải cách được phân về các thôn
xóm và điều đầu tiên phải làm là thực hiện chính sách “tam cùng” (ba cùng) với
người nông dân. Nghĩa là người cán bộ đội về địa phương phát động phong trào phải
cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với gia đình nông dân diện bần cố nông. Điều đó
khiến cho cán bộ đội phải từ thực tế sát sao, gần gũi để mà đồng cảm với hoàn cảnh
của người nông dân làm cho họ có tư tưởng vùng lên đấu tranh đánh đổ giai cấp địa
chủ thực sự, hạ uy thế chúng xuống và đồng thời nâng cao khí thế cách mạng của
giai cấp nông dân trong sức mạnh cách mạng toàn dân tộc.
Đồng thời trong nội dung công tác có phương
pháp “Thăm nghèo gợi khổ”. Ngoài việc thu thập tin tức để “xếp loại kẻ thù”, Đội
còn khơi gợi người nông dân thổ lộ nỗi khổ, khơi gợi lòng căm thù và tìm ra những
cá nhân có thể bồi dưỡng để tham gia trực tiếp tố khổ hoặc bồi dưỡng trở thành
cốt cán. Nghĩa là qua sự gần gũi thân quen, người cán bộ đội phải tìm ra cho được
những người nông dân tuy nghèo khổ nhưng trong sạch về lí lịch gia đình mà xây
dựng cơ sở tạo nên khối đoàn kết vững chắc rồi đưa họ tham gia cuộc đấu tranh
giai cấp giữa nông dân và địa chủ...
Trong quá trình thực hiện, trong điều kiện đó
gặp không ít khó khăn. Người cán bộ Đội thực sự “ba cùng” với người nông dân, với
từng gia đình. Ăn thì cơm độn ngô, khoai, thức ăn chỉ có măng, dưa, cà. ở lại càng
khó hơn, hầu hết người nghèo khổ lại toàn đi ở không có nhà, gia đình có nhà thì
chật chội, vài gian nhà tranh rách nát kê tạm ít chiếc giường chõng tre chỉ đủ
cho người trong gia đình, khách có ngủ cũng phải chen chúc...Tất nhiên lúc đầu
khổ sau phải quen, phải khắc phục, như thế mới làm được việc.
Trong công việc, trong trao đổi, hội họp phải
hướng dẫn, phân tích cho người nông dân thấy rõ chính sách giảm tô, CCRĐ của Đảng,
chính phủ là đúng đắn nó mang lại quyền lợi thiết thực cho người nông dân, đảm
bảo chủ trương “dân cày có ruộng”.
Bằng phương pháp “Lấy nghèo gợi khổ”, lấy tội
ác áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến đàn áp bóc lột, đánh đập người
nông dân đến cùng kiệt để khơi dậy lòng căm thù của quần chúng nông dân lao động,
giúp họ xác định được kẻ thù của mình chính là bọn địa chủ cường hào ác bá là
chế độ phong kiến và thực dân Pháp xâm lược...
Người cán bộ đội phải lấy chính sách của Đảng,
chính phủ và Bác Hồ, thành quả lớn của thực tế đấu tranh cách mạng để minh chứng
hùng hồn... Từ đó gây niềm tin tưởng vào chính sách của Đảng, Bác Hồ... Có cái
nhìn mới ở mỗi con người nông dân...
Bằng các biện pháp đó, nhìn chung các xóm dù ít,
dù nhiều đều tìm ra được “địa chủ”, tất nhiên không thể đúng với tỷ lệ số lượng
quy định cho từng thôn xóm, cho toàn xã. Có những chuyện giờ kể lại như một
chuyện khôi hài, bi đát. Có người nông dân lên tố khổ, đấu địa chủ, tính số năm
đi ở bị địa chủ bóc lột nhiều hơn tuổi thực của mình gần chục tuổi. Nghĩa là đi
ở từ khi chưa có bào thai trong bụng mẹ, thậm chí bố mẹ lúc đó chưa lấy nhau.
Toàn là tố cáo láp, tố cáo sai sự thật. Đây cũng là một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến những sai lầm, những tổn thất lớn trong CCRĐ, khiến nhiều người bị
oan, nhiều gia đình bị quy sai thành phần, bị quy tội, thậm chí bị chết oan vô
tội...đến khi có chủ trương sửa sai thì mới trả lại tự do, quyền lợi cho họ.
Nhìn chung cuộc sống của những người dân nói
chung, người nông dân nói riêng, trước, trong CCRĐ vô cùng nghèo khổ- Số gia đình
khá giả bị quy địa chủ có nhà ngói, sân gạch, tường xây bao quanh, nhà cao kín
cổng có của ăn của để còn lại toàn nhà tranh vách đất hoặc thưng phên nứa lụp xụp,
chật chội suốt đời lam lũ nghèo khổ. Số hộ nghèo nhiều nhưng tìm ra gia đình cốt
cán thì quả khó khăn. Xóm Tây Tiến (Sau này sát nhập xóm Nam Giang gọi Nam Tiến)
có bà Lịch nghèo khổ nhất làng xã. Một cố nông độc thân sống chui rúc trong một
túp lều xiêu vẹo, rách nát, không đất đai vườn tược, trong nhà chẳng có vật dụng
gì đáng giá ngoài chiếc vại sành đựng nước ăn đã sứt mẻ, rạn nứt và chiếc giường
tre ọp ẹp trên có mấy tấm chiếu rách nát, vài ba chiếc nồi đất chơ chỏng bên bếp
củi kê mấy viên gạch nửa. Suốt quanh năm chí tối ngô khoai đi mót, mò cua bắt ốc,
rau cháo qua ngày, cuộc sống lam lũ khổ sở. Bà mặc bộ quần áo vải nâu nhuộm bùn
sờn, rách vá hàng trăm mảnh. Riêng chiếc váy (mấn) vá gần trăm mảnh. Nghe đâu
sau này được đưa đi triển lãm để minh chứng cho nỗi thống khổ của người nông dân
sống dưới chế độ áp bức bóc lột của thực dân phong kiến – Một bà mẹ già sống
trong một túp lều chật chội, cán bộ đội không thể « ba cùng” được. Một số nông dân
ở xóm Bắc Lộ (sau gọi Hoa Bắc) quá nghèo khổ như Dục Hỵ, Văn Thuyên, Cu Liệu,
Chiến Rụt, mồ côi đi ở từ nhỏ, không nhà cửa ruộng vườn, Đội về họ vẫn đang đi ở, Địa chủ chưa
có, chưa tịch thu, trưng thu nhà cửa, chưa có ‘quả thực’ để chia cho họ. Muốn sống gần gũi
với những người đó thật khó khăn. Bởi chuyện ăn, chuyện ngủ...Một số gia đình
tuy có nhà cửa, nhưng cũng rất chật chội, đã nghèo lại khó, chẳng có giường chiếu,
có chăng cũng chỉ vài ba mảnh chiếu rách trải lên chiếc chõng tre ọp ẹp. Nhà ông
Ngại Thiệu, sát ngay bên đường phân cách giữa hai xóm Bắc Lộ và Tây Tiến có hai
gian nhà và một chái (dùng làm bếp) bao quanh gài tre nứa. Hai gian nhà nhỏ chỉ
kê một chiếc giường, người lại đông, ngoài hai vợ chồng còn có một bà già gần
80 tuổi (cố Ngại thiệu) và ba đứa con, cán bộ Đội cũng không ở được. Nhưng bằng
cách gần gũi trực tiếp hay gián tiếp gì đó mà những người này đều là cốt cán và
tố khổ mạnh nhất, đặc biệt Dục Hỵ, Ngại Thiệu đều là công an xã sau đợt cải cách
này có một số nhóm tổ đội tìm được nhà ở thực hiện ‘ba cùng’ với gia đình gặp
quá nhiều khó khăn vất vả.
“Ăn cùng” cơm độn ngô lẫn khoai lang. Gọi là cơm
nhưng thực ra toàn ngô, khoai, rải rác vài ba hạt gạo dính vào cả bát ngô, củ
khoai (gạo tiêu chuẩn của cán bộ Đội). Thức ăn thì chỉ có măng muối kho mặn, đĩa
muối vừng, bát canh rau khoai nấu muối hoặc tí mắm tép ướp lâu ngày. Ngủ, thì
như ta đã biết, thường những gia đình nghèo lại thiếu cả giường chiếu. Một giường
hai hoặc ba cán bộ Đội cùng nằm. Nếu một hoặc hai người một giường thì phải kèm
thêm một đứa bé của gia đình. Đêm ngủ trời nắng nóng dùng quạt mo cau, quạt nan
tự đan, trời lạnh thì đắp chiếu, thiếu chiếu đắp bì gai sọc xanh (bì sọc xanh đựng
thóc gạo trước đây) bì gai đay Nhật sản xuất.
Cán bộ Đội phải đồng cam cọng khổ, động viên mọi
người trong gia đình vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn, từ đó gợi lên lòng căm
thù kẻ đã gây nên cảnh đói nghèo này cho gia đình họ, cho bà con chòm xóm và xác
định cho họ đều cùng là giai cấp nông dân lao động, đều bị bọn địa chủ cường hào
ác bá chiếm đoạt không chỉ ruộng đất mà cả sức lao động, cả giá trị cuộc sống
con người nữa, khiến cuộc sống của họ chịu cảnh nghèo đói khổ sở...
Để cùng đồng cam cọng khổ với sự lao động vất
vả, để nắm được tâm tư tình cảm của gia đình, cán bộ Đội luôn cùng gia đình làm
bất cứ việc gì : Cuốc đất, gánh phân,tăng gia sản xuất, chặt củi, hái rau...Nghĩa là gia đình
có việc gì làm, họ làm thì cán bộ Đội cùng tham gia ...không quản ngại, không từ
chối. Và như vậy đã thực sự thực hiện tốt “ba cùng” với người nông dân.Trong “ba
cùng”, ngoài việc nắm bắt tin tức, tư liệu để xếp loại đối tượng “kẻ thù”, người
cán bộ Đội đã khêu gợi “mở đường”, “bật đèn xanh” cho người nông dân thổ lộ nỗi
khổ, nói ra những điều ấm ức trước nay, từ đó khơi gợi lòng căm thù kẻ áp bức bóc
lột, đồng thời tìm ra được những người có thể bố trí bồi dưỡng để tham gia tố
khổ hoặc đưa vào hàng ngũ cốt cán. Những người nông dân đã từng có quan hệ đi lại
với những gia đình khá giả, giàu có trong làng xã được Đội động viên, khuyến khích
cổ vũ để họ tự đứng ra tố cáo là đã từng bị cường hào “áp bức bóc lột”, nhất là
tìm trong số đó có chị em nào đã bị lợi dụng “cưỡng hiếp” để quy tội thêm nặng
cho đối phương. Thậm chí những người vô gia cư nghèo khổ, con cháu, họ hàng với “địa chủ” cũng được
đội viên của Đội gần gũi, tiếp xúc lôi kéo, vận động để đấu tố người thân, người
cưu mang, đùm bọc mình khi khó khăn hoạn nạn.
Từ cuối năm 1953 đến đầu 1956 trên các làng xã
toàn miền Bắc nói chung, trên địa bàn làng Sen xã Nghĩa Đồng nói riêng đã diễn
ra biết bao đợt phát động quần chúng giảm tô và CCRĐ và đã thu được nhiều thành
quả đáng kể. Đó là đánh đổ giai cấp phong kiến thống trị, bọn địa chủ cường hào,
ác bá áp bức bóc lột bần cùng hóa người nông dân đem lại ruộng đất cho dân cày
nghèo, lấy của cải của cường hào địa chủ mà do sức lao động mồ hôi xương máu của
người nông dân chia lại cho họ để có cuộc sống mới, đổi đời cho người nông dân
lam lũ, thực hiện “người cày có ruộng” thỏa nguyện ước mơ của người nông dân
bao đời nay . Nhưng ngoài những thành quả đã đạt được đáng kể đó, CCRĐ đã gặp phải những sai lầm đáng tiếc, đó là
cách làm, cách thực hiện mà sau này sửa sai ta mới thấy rõ. Đó là đấu tố sai sự
thực để đi đến quy sai thành phần. Đó là ép cung, dùng bạo lực bắt buộc phải nhận
mình là phản động , là địa chủ cường hào. Biết bao người, bao gia đình bị quy
oan, quy sai thành phần, quy tội phản động chống lại chính quyền nhân dân...
Có thể nói số gia đình bị quy oan sai thành
phần, số người bị quy là phản động trong toàn xã khá nhiều, riêng làng Sen chỉ
trong ba xóm Bắc Lộ, Tây Tiến, Nam Giang đã lên tới con số hàng chục, chủ yếu vì
các biện pháp “khơi gợi đấu tố” truy bức, lăng mạ, làm nhục để đưa tỉ lệ địa chủ
trên dân số theo định mức đặt ra, đảm bảo chỉ tiêu càng nhiều càng tốt để tỏ rằng
đội đã “phát động quần chúng tốt, làm đến nơi đến chốn”, “thà quy oan chứ không
bỏ sót”. Trên thì động viên tuyên truyền “Nhà nông chúng ta phóng tay phát động”
dưới thì những đoàn, những đội cải cách quyền sinh, quyền sát “Nhất Đội, nhì trời”
lộng quyền dùng mọi thủ đoạn tra tấn, giam cầm, đánh đập, nhục hình khi chưa có
bằng chứng cụ thể và chưa có tòa án xét xử. Biết bao gia đình khá giả tham gia
cách mạng kháng chiến đã đóng góp tiền của trong “Tuần lễ vàng” quyên góp cho
kháng chiến trong những ngày gian khổ khó khăn giờ CCRĐ bị đưa ra đấu tố vì là địa
chủ cường hào. Bao người trí thức từng là cán bộ Việt Minh, có người là trưởng
ban BTVH từ thời kỳ 1936-1939 bị quy là phản động đầu sỏ. Đó là trường hợp ông
PhạmQuang Khầm ông là cán bộ bình dân
học vụ từ những năm 1936 – 1939, vợ là bà Cao Thị Tuyết là hội viên hội phụ nữ
kháng chiến . Bà tham gia công tác hội phụ nữ từ 1945 – 1953, trong tuần lễ vàng
gia đình bà ít nhiều đã quyên góp tiền của cho cách mạng, cho kháng chiến , thế
mà bị quy là gia đình tiểu tư sản phản động. Ngày ông Khầm bị bắt đột ngột
trong đêm, mọi người ai nấy trong thôn xóm đều bất ngờ không ai hiểu chuyện gì đã
xảy ra, vì ông là cốt cán bình dân học vụ, một con người hết lòng vì cách mạng
và kháng chiến của dân tộc. Ông còn viết báo, làm thơ để động viên mọi người
tham gia kháng chiến trong đó có “diệt giặc đốt”, một mặt trận chiến đấu mà ông
đang chỉ huy. Cùng với việc bị bắt là tịch thu nhà cửa, dụng cụ, đồ đạc trong
nhà, trước hết là niêm phong tất cả, chờ ngày xử lí.
Ông Phạm Quang Khầm vốn là một tú tài Tây học
– Thời dở Tây, dở ta có nhiều sách báo bằng tiếng Pháp, tiếng Tàu (chữ Trung Quốc)
xếp rất ngay ngắn, ngăn nắp trên giá sách. Trong từng ngăn tủ còn có những bình
đựng axit sun fu ric, các hóa chất, lọ thuốc tím, lại có cả những chai rượu ngoại
Sâm panh, Na Pô Lê Ông...Nhưng bình ngoại rượu nội, bình Tây rượu ta, Đội kiểm
tra, khám xét thấy vậy cho là sách nước ngoài làm gián điệp, có chứa thuốc độc
, chữ Tây, chữ Tàu thì các đội viên đội cải cách như anh Cơ,anh Cẩu tên các cán bộ Đội) không đọc được, chẳng hiểu
chi, cho là sách cấm, sách của bọn gián điệp. Lấy Axit sun fu ric nhỏ giọt vào
con chuột thì chuột chết, nhỏ vào miệng cóc: Cóc chết, cho đó là thuốc độc. Thế
là tuyên bố một câu xanh rờn: “Phạm Quang Khầm thằng phản động đầu sỏ, tống
giam ngay, chờ ngày hành xử”.
Trong một ngày phỏng vấn ( thực ra là tra khảo
lần thứ hai,ba) tại nhà ông Phợn, tôi đứng ngoài nhìn qua cửa sổ chứng kiến: Một
cán bộ đội (sau này tôi mới biết đó là Đội Cơ) đưa tập báo bằng tiếng Pháp và
quyển sách bằng chữ nho (chữ Tàu) dơ trước mặt quát:
- Khầm, đây có phải
là sách quốc cấm của bọn gián điệp, bọn Việt gian đưa cho mày phải không?
Không như lần hỏi cung trước, ông ngập ngừng hồi
lâu rồi từ chối. Lần này ông không cần suy nghĩ trả lời ngay:
- Dạ thưa cán bộ phải.
Đội Cơ lại lấy lọ thuốc mà Đội Cẩu trao cho
sau khi đã nhỏ vào mồm chuột và cóc bị chết, lại quát:
- Khầm: Thế đây có
phải là thuốc độc mà mày tàng trữ để giết hại cán bộ nhà nước và nhân dân không?
- Dạ, đúng.
Đội Cơ nói câu cuối cùng: Như vậy là đã rõ, đúng là một tiểu tư sản thiếu lập
trường, một tên phản động đầu sọ – kết luận cuối cùng.Thế là ông không phải ra đấu
trường để mọi người chỉ tay đấu tố, Đội cho tống vào nhà tạm giam. Gần một vài
tuần sau đó có chỉ thị của trên gửi về sửa sai- Ông Phạm Quang Khầm vô tội, được
trả lại tự do, bồi thường danh dự, sau này ông làm trưởng phòng giáo dục huyện
Nghĩa Đàn.
Trường hợp ông Nguyễn Thế Vượng lại
oái ăm hơn, thảm thương hơn. Từ đời ông đến đời cha chỉ là dân lương thiện, không
làm gì cho đế quốc, phong kiến. Bản thân ông có tham gia hoạt động cách mạng. Các
anh, chị, em ông đều vào các hội do Việt Minh tổ chức: Hội nông dân, hội phụ nữ,
hội mẹ chiến sĩ... phục vụ cho kháng chiến... không phải địa chủ cường hào ác bá,
áp bức bóc lột người nông dân, gia đình thường thường bậc trung nông, nhà cũng
chỉ mới dăm ba gian lợp ngói, còn sân đất, chung quanh rào cây sống, chỉ vài ba
mẫu ruộng cấy lúa, trồng màu, khai hoang được dăm bảy sào đất trồng ngô. Gia đình
đông người, nhưng toàn đàn bà con nhỏ lại có cả bà cố già, không tham gia lao động
sản xuất được, phải thuê mượn người cày, cấy, chăn trâu, giúp việc...thế là quy
địa chủ...
Bao lần hỏi cung tra khảo, do tính
thật thà,có gì nói nấy, không thể không nói có...bản chất người dân quê thuần nông
lại thêm tính trung kiên chịu đựng của người cách mạng, thà chết chứ không
khai, không nhận tội, thế là Đội kết luận: Nguyễn Thế Vượng tên địa chủ đầu sỏ,
ngoan cố” và tuyên bố tống giam chờ ngày xử bắn...
Trên đường ra pháp trường ông “được
sổng” chạy thoát (sau này được biết tốp dân quân dẫn ông đi cám cảnh cho ông,
thương tình, cởi trói cho ông chạy thoát...). Đội phải tập trung toàn bộ lực lượng
Đội, lực lượng dân quân toàn xã truy lùng...Khi chạy vượt qua được khu vực xóm
Cộc – Bà Già xuống vũng Cuốc, vũng Vả, bị truy lùng ráo riết, vòng vây dần một
khép lại. Trúng kế, lợi dụng lúc một nữ dân quân sơ hở, ông lao ra cướp giật được
chiếc kiếm và tự sát, lưỡi kiếm chỉ mới cắt đứt cuống họng, máu phun ra lênh láng...Đội
vẫn tuyên bố khiêng về, đưa vào trường bắn, dựng dậy, bắn...
Chứng kiến cảnh này quả là rùng rợn,
quả là thương tâm. Đau xót hơn, thương tâm hơn, khi chôn không một manh chiếu bó
thân, nằm trên chiếc băng ca bị hất xuống, mặt úp sấp , lại bị một người trong
số người khiêng xác từ pháp trường ra chôn dùng chiếc cào móng (cào 5 răng làm
bằng sắt) mổ một nhát vào đầu sau ót.
Không chỉ ở đây mà ở các nơi khác trong việc đấu tố, quy sai thành phần, tội
trạng cũng cũng quá tội không kém.
Biết bao trí thức, tiểu tư sản, tư sản,
địa chủ, phú nông theo cách mạng, tham gia kháng chiến, đã đóng góp công sức,
tiền của từ những ngày đất nước còn gặp nhiều khó khăn, giờ đây CCRĐ đều bị đưa
ra đấu tố. Có người đã thốt ra những câu mỉa mai chua xót: “Dân ta đánh dân mình”...
Nhà bà Năm Quế ở làng Cừa (Nghĩa Hoàn). Hai vợ chồng đều tham gia hoạt động cách
mạng, phục vụ kháng chiến từ những ngày ở trong quê Hà Tĩnh, lên miền núi cũng
vì cuộc sống, vì cách mạng. Bà có ba con: Đặng Xuân Quế,Đặng Xuân quang, Đặng Thị
Hường đều tham gia vào các tổ chức hội của Việt minh, kháng chiến. Nhiều cán bộ
làng xã thường đến nhà bà bàn bạc, trao đổi chuyện làm ăn, chuyện kháng chiến.
“tuần lễ vàng” gia đình bà đóng góp cho kháng chiến khá nhiều. Thế mà vẫn bị đấu
tố, quy tội “địa chủ phản động”, bị tịch thu, trưng thu tài sản.Anh Đặng Xuân
Quang học hết cấp I phải bỏ học mấy năm vì hoàn cảnh gia đình như vậy. Năm 1955
-1956 ra Nghĩa Đồng học lớp 5 còn gặp nhiều khó khăn, không chỉ thiếu sách vở,
bút mực mà cả ăn mặc. Cùng học với anh tôi, mẹ tôi cưu mang nuôi cho ăn học...Nhờ
có chủ trương sửa sai, gia đình bà được trả lại thành phần.
Vẫn biết, kẻ có tội với nước với dân
thì phải xử, trị tội, nhưng phải xét đúng người, đúng tội. Trong trường hợp trên
thì quá tội, không phải đạo, không thể chấp nhận được khi mà lưỡi gươm, mũi súng
lại chĩa vào những người mà chính những người ấy lại là những người đã vì cách
mạng vì kháng chiến, vì lợi ích con người xã hội.
Có thể nói chủ trương CCRĐ của Đảng,
chính phủ là đúng đắn, sáng suốt, nó sẽ thành công tốt đẹp, mà không mắc một
sai lầm nếu như không có những cuộc đấu tố sai trái, không đúng sự thật để đi đến
chỗ quy oan quy sai thành phần bởi không có những cán bộ Đội quan liêu ,yếu kém,
thiếu trách nhiệm, vụ thành tích làm sai chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước...
nhiều người đau xót quá, tự than vãn, có người tự sát, tự đi đến cái chết oan
nghiệt...Vì họ nghĩ đất đai, nhà cửa, tài sản thì chẳng tiếc gì và cũng chẳng đáng
là bao... nhưng không thể chịu đựng được cái cảnh đấu tố oan sai thậm chí có trường
hợp được Đội mớm, bị thúc ép bắt ân nhân đấu tố người cưu mang giúp đỡ mình khi
gặp khó khăn...Đau xót hơn có cảnh con đấu cha, vợ tố chồng (con nuôi, vợ lẽ).
Nhất lại trong khi mình một lòng vì dân vì nước luôn đi theo cách mạng mà phải
chịu cảnh đưa ra đấu tố, rồi bị tù đày, đánh đập, khủng bố, thậm chí xử tử hình...Tất
nhiên sau đó không lâu đã được sửa sai. Vào đầu năm 1956, nhận được chỉ thị của
cấp trên, thấy được sai lầm, các địa phương trên cả nước thực hiện chủ trương sửa
sai CCRĐ của trung ương Đảng, chính phủ. Dưới sự lãnh đạo của ban sửa sai CCRĐ
của huyện Nghĩa Đàn, Đội sửa sai của xã Nghĩa Đồng được thành lập, do ông Võ Thái
Nhiên làm đội trưởng, các đội viên ông Tân, ông Quy, ông Hùng.
Bước vào
công cuộc sửa sai, trước hết là rà soát lại việc phân loại thành phần, xem đội
cải cách đã thực hiện sách lược phân hóa thành phần bần, cố, trung nông với địa
chủ phú nông như thế nào, sai, sửa, trả lại thành phần, tài sản cho những gia đình
địa chủ, phú nông bị quy sai, bị tịch thu, trưng thu tài sản và minh oan trả lại
danh dự tự do cho những cá nhân bị quy là phản động đầu sỏ, chống phá cách mạng...Đồng
thời nêu ra và công bố những thắng lợi, thành quả đạt được trong CCRĐ và sửa chữa
những sai lầm lẽ ra không đáng có; dần dần, từng bước ổn định tư tưởng, tổ chức
từ trong Đảng đến các đoàn thể quần chúng nhân dân, ổn định an ninh, trật tự xóm
thôn, làng xã, khơi dậy tình làng nghĩa xóm, tình đoàn kết trong mọi tầng lớp
nhân dân.
THÚ
VUI TUỔI TRẺ (đang viết)
B.PHẦN
THỨ HAI: TRƯỜNG HỌC TRƯỜNG ĐỜI
Chương
III: ĐI HỌC- NHÀ TRƯỜNG VÀ NHỮNG NGƯỜI THẦY
1/ Thầy tôi (chờ)
2/
CÓ MỘT THỜI ĐỂ NHỚ VỀ NHỮNG NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN
Sau hơn một năm học xong lớp vỡ lòng “Đại học
chữ to” do Thầy Loan, Cô Tuyết, Cô Tâm giảng dạy và mấy tháng hè được học bồi
dưỡng thêm kiến thức sơ đẳng về môn toán, nhất là các phép tính nhân chia đơn
giản; mùa thu năm 1954 tôi hăm hở cắp sách đến trường cấp I Nghĩa Đồng học lớp
đầu tiên của cấp học.
Năm
học lớp một, lớp tôi được thầy Trương Công Tửu chủ nhiệm và trực tiếp giảng
dạy. Lúc đó tôi chỉ biết thầy dân tộc thổ ở Giai Xuân thuộc huyện Tân Kỳ ngày
nay. Đến nay xuýt xoát 60 năm, quá nửa thế kỷ tôi vẫn nhớ như in người thầy đầu
tiên ở bậc tiểu học phổ thông ấy. Thầy có vóc dáng to đậm, khuôn mặt cân đối
hình trái xoan, nước da trắng hồng rất tươi trẻ khỏe mạnh. Thầy hay mặc bộ âu
phục ngắn ( hay gọi là quần sooc, áo sơ mi ngắn ống) màu ghi (lúc đó chúng tôi
chưa biết màu ghi- chỉ quen gọi màu tro). Tuy người dân tộc ít người ở vùng
rừng núi sâu xa (của Nghĩa Đàn cũ) nhưng thầy nói rất dễ nghe, tiếng phổ thông
chuẩn mực. Tính thầy hiền lành, chất phác, lúc nào cũng cười rất tươi, luôn gần
gũi nhưng cũng rất thẳng thắn, nghiêm khắc với học sinh. Thầy hay đọc và kể
chuyện cho chúng tôi nghe, nhất là chuyện dân gian, tiếu lâm có tính chất giáo
dục con người trong cuộc sống...Học sinh thời đó sợ thầy cô một phép. Muốn gần
gũi thầy, tâm sự với thầy, hỏi bài thầy, nhưng không dám, cứ sờ sợ thế nào ấy.
Thầy đến nhà chơi, thăm tình hình học tập thì khúm núm, khép nép vẻ sợ sệt,
thầy ra về thở phào nhẹ nhõm. Nhưng với thầy Tửu thì chúng tôi rất gần gũi vì
thầy rất thương, rất gần gũi học sinh. Giờ ra chơi thầy còn đùa giỡn, bế cõng
học sinh, có lần thầy còn bế tôi đặt lên vai thầy giang tay làm máy bay chẳng
khác gì tình cảm người cha đang đùa, nựng con mình... Thật thích thú...
Được thầy gần gũi thương mến, học trò
cũng rất quyến luyến thầy, giờ ra chơi hay giờ giải lao, lao động học trò quây
quần quanh thầy như đàn chim non ríu rít quanh mẹ...
Tôi là một học trò được thầy quan tâm
thương mến. Bởi không chỉ ngoan, lễ phép, cởi mở, tốt với bạn bè, tôi còn là
cậu học trò có lẽ vào loại bé nhỏ của lớp, nhưng lại rất sôi nổi, hiếu động
chăm học, lúc nào đến lớp cũng bài học, bài làm đầy đủ, sách vở lại cẩn thận,
sạch đẹp, nghiêm túc...Ngay từ buổi đầu tiên tựu trường vào lớp thầy đã chú ý
đến tôi và tạm chỉ định tôi làm lớp phó phụ trách thi đua, học tập, lớp trưởng
là anh Văn Quỳ, lớn tuổi, to cao nhất lớp...
Cho đến bây giờ đã bao nhiêu năm trôi qua
tôi vẫn nhớ mãi, khắc sâu trong tâm khảm tôi những lời thầy dạy, những tình cảm
thầy đã dành cho. Những bài học quí giá lúc ấy không chỉ đi theo tôi một thời
gian: Một năm, một cấp học mà nó còn đi theo suốt cả cuộc đời tôi...Và trong
suốt đời tôi, hầu như không bao giờ quên được hình ảnh thầy Trương Công Tửu,
thầy giáo dạy tôi ở lớp học đầu tiên của đời học sinh tiểu học phổ thông vào
đầu những năm 50 của thế kỷ trước.
Nếu như thầy Lan, Cô Tuyết, Cô Tâm dạy
cho tôi những chữ cái đầu tiên, những phép tính đơn giản về môn toán học: Cọng,
trừ, nhân chia một hai chữ số dựa theo bảng cửu chương, thì thầy Tửu không chỉ
dạy cho tôi những kiến thức văn hóa sơ đẳng ở lớp học đầu tiên bậc tiểu học mà
còn bằng cả những khái niệm về cuộc sống con người đầu tiên...Hơn nữa chính
thầy đã mở trang sách đầu tiên còn thơm mùi giấy mực và truyền cho tôi những
dòng chữ tươi đẹp trên trang giấy trắng đầu tiên của tuổi học trò thời thơ ấu
làm cho tôi thấy được trong đó khi lên học lớp trên, nhất là khi đã trưởng
thành những vấn đề thuộc về nhận thức xã hội, lịch sử, nhân văn.
Những câu chuyện ngụ ngôn, tiếu lâm,
những câu chuyện đời thường mà thầy kể và khuyên răn, dạy bảo chúng tôi, khiến
cho khoảng cách thầy trò trở nên gần gũi, quý mến, thân thương... và tìm thấy
được những niềm vui trong cuộc đời...
Và để nhớ ơn thầy, đền đáp công ơn dạy dỗ
của thầy buổi ban đầu một cách cụ thể, thiết thực, khi theo bước chân, khi theo
con đường thầy, đã vào nghề sư phạm, tôi quyết tâm cố gắng bằng mọi cách, mọi
nỗ lực xây dựng cho các em học sinh của mình một nền nếp ngay từ đầu, một phong
cách tốt đẹp, một tình cảm chân thành tình nghĩa thủy chung như thầy đã dạy dỗ,
chỉ bảo cho chúng tôi...và luôn luôn phải nhớ: Với người thầy đứng trên bục
giảng trước hết phải có tâm, có trí, có tình, phải yêu thương học trò như chính
yêu thương con em mình...Để rồi các em sẽ cảm phục, kính yêu thầy, nhân ái với
mọi người. Mai sau dù học hành không thành đạt theo ý muốn, theo nguyện vọng,
các em cũng nên người tử tế, có ích cho xã hội, cho cuộc đời.
...Trong suốt cuộc đời, trải cuộc sống
thường ngày, trong công việc một thầy giáo theo bước chân đường đi của thầy, tôi
không có mơ ước gì hơn, tham vọng gì nhiều, chỉ là một thầy giáo xuýt xoát bốn
mươi năm trong nghề; trong đó có 15 năm làm công tác quản lý, nhưng tôi đã cố
gắng hết sức mình để đền đáp công ơn thầy để nhớ đến người thầy đầu tiên đã dìu
dắt, dạy dỗ tôi khôn lớn, trưởng thành và hơn thế nữa đã để lại trong tôi nhiều
ấn tượng tốt đẹp, những tình cảm chân thành mà chắc rằng không bao giờ còn được
gặp lại nữa và dĩ nhiên không bao giờ phai mờ mất đi trong tôi sự kính trọng,
biết ơn và lòng cảm phục sâu sắc...
Phạm Văn Du
Cựu học sinh khóa 1954- 1957
Trường phổ thông cấp
I,II Nghĩa Đồng.
(Chủ tịch hội giáo chức Minh Hợp,
Quỳ Hợp, Nghệ An)
NHỚ VỀ MỘT MÁI TRƯỜNG
Tháng 9/1959 Trường cấp 2 Nghĩa
Đồng (nay là Trường THCS Nghĩa Đồng - Tân Kỳ - Nghệ An) được chính thức thành
lập. (Tôi nói được chính thức thành lập vì trước đó - năm học 1955 - 1956 đã có
một lớp năm ghép vào trường cấp 1 cùng xã do
thầy Hoàng Thế Nguyên làm hiệu trưởng để tạo điều kiện cho học sinh lớp
4 đầu tiên lên học lớp 5). Nhưng những năm sau đó học sinh lên cấp 2 ít, lớp
năm lên lớp sáu khóa đó không đủ sĩ số nên không mở trường, học sinh phải đi
Thái Hòa, Nghĩa Đàn học - khóa học chúng
tôi (1954 - 1958) phần đa phải ở nhà một năm. Trung tuần tháng 9 năm đó trường tổ chức lễ khai giảng tại trường
cấp I được địa phương dựng thêm cho một dãy nhà tranh tre nứa lá năm gian để
làm phòng học và hội họp. (Dãy nhà ngói
được ủy ban xã và phụ huynh học sinh góp công xây dựng trước đó cho trường cấp
một được tháo dỡ một số ngôi đền trong xã thuộc xóm Đại Giang).
Tôi được cái may mắn là một trong những học sinh gia đình khó khăn năm
qua không đi học xa được nay có trường lớp ngay trong xã gia đình tạo điều kiện
cho đi học tiếp. Nhất lại lúc đó cả một vùng rộng lớn phía Nam Nghĩa Đàn gồm các xã: Nghĩa Khánh, Nghĩa Đức, Nghĩa
Bình, Nghĩa Đồng đến Nghĩa Hợp, Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn, Hạ Sơn, Văn Lợi (thuộc
Quỳ Hợp nay). Cũng chỉ có một lớp 5 mà vẫn chưa đủ sĩ số học sinh. Nhà trường
được phép nhận thêm một số học sinh miền xuôi thuộc các huyện Diễn Châu, Yên
thành, Đô Lương, Thanh Chương là con em các thầy giáo hoặc có gia đình anh em
đi khai hoang xây dựng nền kinh tế mới tại Cừa, Giai Xuân…
Chúng tôi bước vào năm học mới với một niềm vui, sôi nổi, phấn khởi tự
hào của tuổi thơ.
Sau ngày khai giảng, việc đầu tiên của chúng tôi là sắp xếp bàn ghế,
trang trí lớp học, vệ sinh khu vực lớp, khuôn viên trường.
Khu lớp học chung cho cả hai cấp có hai dãy nhà bố trí sắp xếp hình chữ
L. Dãy nhà ngói có bốn phòng học và một văn phòng dành cho cấp I do thầy Nguyễn
Hàm Tam làm hiệu trưởng. Dãy nhà tranh 5 gian ngăn thành hai phòng học và một
gian ở giữa làm văn phòng. Lớp chúng tôi được ưu tiên học tại dãy nhà ngói, dãy
nhà tranh để lớp cấp I học và làm phòng họp. Tuy chưa được khang trang đầy đủ
về cơ sở vật chất nhưng lúc đó như thế cũng là tạm ổn…
Nay đã 50 năm, tròn ½ thế kỉ, tuổi đã ngoài 60, nhưng tôi không sao quên
được những tháng năm sôi nổi, vui tươi, hào hứng đầy tự hào và ý nghĩa ấy. Nếu
chỉ riêng cấp II thì chỉ vọn vẹn một lớp chưa quá 50 học sinh kể cũng lèo tèo,
thiếu nét đông vui, nhộn nhịp, khí thế,
nhưng do học chung với cấp I nên có đến năm lớp dù sao cũng mất đi cảm giác ít
ỏi,buồn, có phong trào hơn ( dĩ nhiên khác hội đồng giáo dục). Đội ngũ giáo
viên lúc đó quá ít ỏi, tuy tỉ lệ đứng lớp so với bây giờ có cao. Mỗi thầy giáo
phải giảng dạy ít nhất hai môn. Đã 50 năm nhưng tôi không sao quên được tất cả
các thầy khóa học đầu tiên ấy (1959 -1962).
*
Năm thứ nhất ( 1959 - 1960) chúng tôi bước vào lớp 5 có:
+ Thầy Trần Việt Pho - Hiệu trưởng, giảng
dạy môn Toán. Thầy có một đặc tài là chơi đàn Vi- ô- lông rất hay và ham thích
ca nhạc.
+ Thầy Nguyễn Hữu Lương - Dạy hai môn Vật
lý, Hóa học.
+ Thầy Vương Đình Liêm - Dạy môn Văn (
Quốc văn, làm luận) - chủ nhiệm
+ Thầy Nguyễn Văn Cao - Dạy môn Lịch sử
và Địa lý.
+ Thầy Trần Văn Quyên - Dạy môn Sinh
vật.
*
Năm thứ hai (1960 - 1961) ( Lớp 6) : Do có sự cố trong lao động (Tôi sẽ
nói sau) và biến động trong công tác luân chuyên giáo viên. Thầy Pho chuyển đi
trường khác. Thay thế thầy Phan Sĩ Dực về làm Hiệu trưởng giảng dạy môn Văn.
Năm nay lại có thêm một lớp 5 trên lại điều động thầy Nguyễn Văn Giảng về dạy
Toán. Thầy Lương dạy môn Toán lớp chúng tôi - kiêm chủ nhiệm.
*
Năm thứ ba ( 1961 - 1962) Chúng
tôi đã là học sinh lớp 7 lớp cuối cấp. Trường đã đủ điều kiện, tư cách một
trường cấp II hoàn chỉnh gồm 4 lớp: 2 lớp 5 ( 5A, 5B), 1 lớp 6, 1 lớp 7. Dù
giáo viên vẫn còn ít.
+ Thầy
Phan Sĩ Dực được cử đi học đại học, thầy Nguyễn Trọng Hành về là hiệu trưởng và
dạy môn Văn lớp 7. Thầy Vương Đình Liêm chuyển về Xuôi trên điều động một số
thầy về dạy: Thầy Ngô Sĩ Khánh - dạy Địa, thầy Cát - dạy Toán.
Sau này khi tôi đã trưởng thành,
đã tiếp bước trên con đường các thầy đã đi và đang đi. Kể từ ngày chia tay các
thầy xa mái trường thân yêu tôi có gặp
thầy Pho, thầy Hành một vài lần còn thầy
Liêm, thầy Cao, thầy Quyên không được gặp lại chắc các thầy đã nghỉ hưu lâu
rồi.
Riêng thầy Lương, như có điều gì đó gắn bó giữa hai thầy trò chúng tôi.
Ba năm thầy trực tiếp làm công tác giáo dục, giảng dạy, quá trình lớn lên và
trưởng thành của tôi cũng nhờ có thầy. Có thể nói mỗi bước đi, kể từ khi chập
chững bước vào đời, mỗi chặng đường của tôi đều có bóng dáng thầy chỉ đường soi
lối
(tôi sẽ nói nhiều hơn ở phần sau - Bởi
đây là một trong những người thầy có tác dụng góp phần lớn trong quá trình
trưởng thành và phát triển nhân cách của tôi). Một quãng thời gian do hoàn cảnh
chiến tranh và điều kiện công tác, thầy trò lại gặp nhau trên lĩnh vực công tác
chuyên môn. Rời quê hương Xứ Nghệ thầy được chuyển ra Hà Nội để được gần gia
đình và thuận tiện công việc. Đầu những năm 70, tôi được cử đi học trường quản
lí trung ương - khung B chi viện cho B được gặp thầy (Lúc đó thầy công tác tại
vụ tổ chức cán bộ - Bộ giáo dục, phụ trách khung B). Lại một bước ngoặt trên
bước đường trưởng thành tươi sáng của tôi.
Hàng
chục năm sau này trong công tác thi cử TNTHPT tôi lại được thường xuyên gặp
thầy - lúc này thầy làm thanh tra của Bộ giáo dục - thường đi thanh tra các kì
thi Tốt nghiệp.
Một điều rất vui, rất phấn khởi, đáng mừng là mỗi khi đi qua trường, ghé
thăm trường, nhớ các thầy hỏi thăm các thầy thì các thầy đều mạnh khỏe đã qua
được ngưỡng “Không chỉ thất thập cổ lai hy” mà là ‘bát thập” “cửu thập”.
Hàng mấy chục năm đã qua, nhưng trong kí ức tôi - cậu học trò bé nhỏ,
thơ ngây ngày xưa ấy - luôn sáng lên hình ảnh những người thầy đã từng dạy dỗ
tôi khôn lớn, nên người. Những người
thầy nghiêm khắc và nhân hậu dạy dỗ chúng tôi không chỉ là kiến thức sách vở
giáo khoa mà còn dạy cho chúng tôi bằng những hình ảnh cụ thể, những bài học
quý giá trong cuộc đời. Tất cả những điều đó đã làm cho chúng tôi vô cùng biết
ơn, cảm động. Hình ảnh những người thầy ấy luôn in đậm trong tâm trí tôi…
Tôi cứ nhớ mãi hình ảnh mỗi thầy giáo lên lớp, đứng trên bục giảng:
Nhớ thầy Cao - một thầy giáo trẻ, khỏe, da trắng hồng dạy môn Địa lí với
tấm bản đồ tự vẽ đơn sơ đưa chúng tôi đi
du lịch khắp năm châu bốn biển, qua nước này, nước khác, vùng này xứ kia, nơi
miền đất lạ, giờ lịch sử lại giúp chúng tôi hiểu rõ về quá khứ oai hùng của dân
tộc, biết các anh hùng trong lịch sử chống xâm lăng, bảo vệ đất nước.
Với phương trình phản ứng, hóa trị, bảng tuần hoàn ( hóa) các định luật,
định lý (Vật lí), các công thức, phương trình Toán học (giờ Toán) của thầy
Lương, thầy Pho…Giúp chúng tôi nắm được khái niệm về các môn khoa học tự nhiên,
hiểu thêm về khoa học. Các tiết Sinh vật, các buổi thực hành ghép cây, mổ chim
bồ câu, ếch,…đầy thú vị cho chúng tôi hiểu thêm về các loài động, thực vật…Đặc
biệt các tiết Văn, mỗi năm chúng tôi được học một thầy. Hình ảnh mỗi thầy đều
khắc sâu trong tâm trí tôi: Thầy Liêm thủ thỉ, nhẹ nhàng, chấm bài kĩ càng, phê
từng từ từng câu trong bài làm học sinh. Thầy Dực sôi nổi hăng say, nhiệt tình,
lúc nào cũng tươi cười, vui tính. Thầy Hành thận trọng, kín đáo, cách dạy cuốn
hút, hấp dẫn..
Nói chung mỗi thầy có một phong cách, có cách truyền thụ khác nhau,
nhưng đều có chung một hướng đó là trách nhiệm đối với học sinh, với bộ môn giảng
dạy…sau này khi lớn lên trưởng thành và đi theo sự nghiệp các thầy tôi mới thấy
rõ: Ngay từ những bài giảng Văn đầu tiên các thầy đã giúp chúng tôi thấy chức
năng của văn học, nhất là chức năng “tải đạo”, Văn học vốn dĩ gắn bó với việc
giáo dục tư tưởng, góp phần đào tạo con người mới…
Nói đến văn chương, ngoài nhớ các thầy dạy Văn, tôi không sao quên được
thầy Lương. Thầy là giáo viên tự nhiên
dạy các môn Toán, Lý, Hóa, nhưng thầy yêu thích văn học, hay nói chuyện văn thơ
và sáng tác truyện ngắn, kịch. Tôi nhớ mãi vở kịch của thầy sáng tác và đạo
diễn cho bọn chúng tôi Du - Đồng - Minh đóng vai, tập và biểu diễn : “Giấc mơ
đáng sợ” khá hay, gây được cảm tình đối với người xem như bọn học sinh chúng
tôi. Nhất là những học sinh cứ vùi đầu vào học, không chịu tập thể dục, rèn
luyện thể thao, rồi mệt mỏi, thức khuya dậy muộn đi học chậm, bỏ tiết hoặc nghỉ
học tùy tiện. Đặc biệt thầy sáng tác truyện ngắn khá hay, trong đó có truyện
ngắn “ Sáng nay tôi không rửa mặt” rất hấp dẫn. Thầy hay đưa bài viết sáng tác
của thầy nhờ tôi chép lại để đăng báo chả là chữ tôi tuy chưa đẹp lắm nhưng được cái
cẩn thận). Nói là nhờ tôi chép hộ nhưng thực ra thầy muốn rèn bày cho tôi cách
viết truyện ngắn… Qua những truyện ngắn của thầy mà tôi được chép lại phần nào
cũng đã giúp cho tôi hiểu khái niệm “Truyện ngắn” và cách viết như thế nào nhất
là bước đầu cho tôi hiểu được cách sử dụng ngôn ngữ ra sao trong một văn cảnh
cho thỏa đáng.
Có thể nói bóng dáng thầy vẫn sáng mãi trong tôi, bởi thầy là trí tuệ,
là lương tri, là niềm kiêu hãnh cho chúng tôi, những học trò luôn luôn cầu tiến
bộ… cũng chính vì thế mà kể từ đó đến nay trên mọi lĩnh vực học tập, công tác
và kể cả cho đến bây giờ đã nghỉ hưu, tôi vẫn luôn cố gắng hết mình để đền đáp
công lao dạy dỗ của các thầỳ, để gọi là nhớ đến những người thầy đầu tiên đã
dìu dắt rèn luyện, và để lại trong tôi những ấn tượng đẹp đẽ mà có thể ít khi
hoặc không bao giờ còn được gặp lại nữa
và không bao giờ mất trong tôi sự yêu mến và kính trọng…
Những năm đầu mới thành lập, trường còn gặp không ít khó khăn nhất là cơ
sở vật chất phục vụ cho dạy và học và đội ngũ giáo viên. Nhưng với ý chí và
niềm tin nhà trường đã từng bước khắc phục, thầy và trò quyết tâm vừa giảng dạy
học tập, vừa phát huy tính tích cực cùng
địa phương xây dựng trường ngày càng lớn
mạnh. Tổng kết hàng năm tuy chưa được mĩ mãn nhưng nhìn chung đều tốt. Nhà
trường năm nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học, hoàn thành các chỉ tiêu về
giáo dục giảng dạy, số học sinh tiên tiến khá đông, mỗi năm lại được tăng lên.
Bởi chúng tôi học với tinh thần ý thức tốt, ở lớp chăm chú nghe thầy cô giáo
giảng bài, về nhà chăm chỉ học bài, làm bài đày đủ. Khẩu hiệu lúc đó “ Bỏ
chuyện riêng, siêng phát biểu” “ Quyết tâm học tập tôt” …. Nhà trường thường đề
ra nhiều biện pháp thích đáng để học tập tôt. Có những hoạt động ngoại khóa bổ
sung cho nội khóa tạo điều kiện cho học sinh được học tốt, nhất là năm chúng
tôi học lớp 7.
Tôi còn nhớ những buổi lên lớp, những tiết mục hái hoa chất lượng, ngâm
thơ, ca hát, biểu diễn văn nghệ, do thầy Pho, thầy Lương, thầy Cao cùng các anh
chị cán bộ lớp, chi đoàn thanh niên và ban chỉ huy liên đội thiếu niên tổ chức rất sôi nổi, hấp dẫn và bổ
ích. Rồi những buổi sinh hoạt văn hóa khá sôi nổi, những buổi trao đổi kinh
nghiệm học tập khá thiết thực
Đã vậy, chúng tôi lại rất ham học và càng học lại càng hăng
say và quý thời gian. Chúng tôi tranh thủ học cả lúc trên đường đi đến lớp, đến
trường, chăn trâu, lấy củi…
Kết thúc khóa học đầu tiên của chúng tôi khá
đẹp đẽ. Có thi hết cấp và đạt kết quả khá cao. Đại đa số đủ tiêu chuẩn lên cấp
III (Lấy điểm thi hết cấp và kết quả ba năm học xét tuyển), nhưng chỉ số ít có
điều kiện đi học được….
Mỗi khi nghĩ đến trường, về thăm lại mái
trường xưa, hoài niệm những tháng năm đã qua, tôi không sao quên được những
ngày sôi nổi, háo hức, tung tăng cắp sách tới trường, của tuổi trẻ vui tươi,
hào hứng ấy.
Xứ Nghệ - Miền Tây
Một ngày đầu thu 2009
Phạm Văn Du
Cựu học sinh khóa I (1959 - 1962)
Hồi ức về mái trường xưa
Mùa thu năm 1962 trường cấp Ba Nghĩa
Đàn – nay là trường THPT Nghĩa Đàn – Thái Hoà Nghệ an được thành lập, ngày 15 tháng 9 năm đó trường
tổ chức lễ khai giảng đầu tiên tại sân vận động thị trấn Thái Hoà (Nay là thị
xã Thái Hoà Nghệ An). Tôi được cái may mắn và vinh dự là một trong bảy học sinh
khoá 1959 – 1962 của trường cấp II Nghĩa Đồng được tuyển chọn qua kì thi TNPT
cấp 2 và gia đình tạo điều kiện cho đi học cấp ba khoá 1 của huyện nhà. Lúc đó
cả vùng Phủ Quỳ - Tây Bắc xứ nghệ rộng lớn gồm các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Châu,
Quế phong, Quỳ Hợp và Tân Kỳ ngày nay cũng
chỉ mới có duy nhất một trường cấp 3 mà cũng chỉ mở được hai lớp tám với
tổng số 110 học sinh (Trong đó có một số học sinh Quỳnh Lưu, Yên Thành, Diễn
Châu, Đô Lương, Anh Sơn lên học ) và nhập chung với trường cấp hai Thị trấn
Thái Hoà. Chúng tôi bước vào năm học mới với một niềm vui háo hức.
Trước ngày khai giảng, việc đầu tiên khi
mới tựu trường, chúng tôi gồm ba anh em (như chúng bạn thường đùa vui: Bộ ba
Lưiu – Quan - Trương) rất thân thiết cùng học với nhau từ lúc cắp sách đi học vở lòng rồi lên cấp I , cấp II : Du –
Hán - Duệ bắt tay nhau vào làm lán để ở. Vì cả ba đều không thích ở trọ,
một mặt do hoàn cảnh gia đình đứa nào cúng có khó khăn, mặt khác cũng không
muốn tách rời nhau. Ở với nhau để có điều kiện giúp đỡ nhau, bổ sung cho nhau
trong cách học để học tập được tốt, ít nhất là giữ được danh hiệu học sinh tiên
tiến như hồi học cấp 2 . Ăn thì góp gạo thổi cơm chung có gì ăn nấy “đồng cam
cọng khổ ”...Lán chúng tôi được làm trong khu vực huyện lỵ, đằng sau phòng giáo
dục. Nói là lán nhưng thực ra dựng được 2 gian nhà cột chôn (Cột nhà cháy của
cơ quan huyện năm trước đó – còn sử dụng được) mái lợp nứa, trát vách quét vôi
khá đẹp do mấy ông anh ở quê lên đi chặt nứa, chặt tre và một số các chú, các
bác ở các phòng ban Huyện quen thân cùng làm giúp ...
Sau
ngày khai giảng là bước ngay vào lao động tu sửa phòng học. Khu trường có ba
dãy nhà bố trí, sắp xếp hình chữ U của
trường cấp hai Thị trấn Thái Hoà xây dựng từ mấy năm trước bằng tranh tre nứa
lá vách trát đất hoặc thưng phên. Tuy thế sau khi được tu sửa lại, trước các
lớp học bổ sung ghép thêm mấy bồn hoa, đường
giải phân cách vào các lớp trông
khá khang trang, đẹp mắt. Tường tựa lưng vào núi kho vàng, mặt hướng nam, phía
trước có đường quốc lộ 48 đi qua, bên kia đường là cánh đồng rộng lớn, mênh
mông trồng lúa và hoa màu của nhân dân Thị trấn và xã Nghĩa Hoà. Ngẫu nhiên lại
trùng hợp với một bài học tiếng Trung Quốc, trong đó có đoạn :
Wo mèn dè xủe xiao hẽn da. “Xũe xiao dè
hèu mèn yõu gào gào dè shàu, xen mèn yõu kiang hoa dè tiẽn di ... ” .
Địa điểm ấy sau thời gian trường đi sơ
tán vì chiến tranh và ở lại xã tại Nghĩa Trung, Nhà nước mở chợ Hiếu, có đường
tàu tuyến Nghĩa Đàn – Giát chạy qua . Dân cư xây dựng nhà cửa, các công trình
nhà nước chiếm hết mặt trước . . Nay trường chuyển về diện tích khuôn viên bị
thu hẹp lại, trước cổng trường xưa còn in dấu hình bóng cây đa già cỗi và mấy
cây tràu cụt ngọn ... Đối diện bên kia đường là bến xe Nghĩa Đàn ...
Nay
tuổi đã xấp xỉ thập niên, nhưng tôi không sao quên được những năm tháng sôi nổi,
hào hứng đầy ý nghĩa ấy ... Nếu chỉ riêng cấp 3 thì chỉ vẻn vẹn hai lớp, nhưng
do nhập cấp nên trường có 13 lớp, cùng chung một hội đồng giáo dục thầy Hoàng
Xuân Định làm hiêụ trưởng. Về mặt tổ chức các đoàn thể trong nhà trường có
thành lập đoàn trường, mặc dầu số đoàn viên chưa nhiều, nhất là ở các lớp cấp 2
hầu như không có mà chỉ thành lập được một chi đoàn học sinh. Như vậy Đoàn
trường có 5 chi đoàn trực thuộc: 2 chi đoàn giáo viên và 3 chi đoàn học sinh.
Thầy Lương Gia Tôn làm bí thư .
Thiếu niên thì nhiều hơn trên 300 đội viên,
thành lập một liên đội gồm 12 chi đội (Khối 8: 1 chi đội, khối 7: 3, khối 6: 4,
khối 5: 4 chi đội ) . Tôi được bầu làm liên đội trưởng, anh Dương Quốc Bảo và
một nữ sinh ở khối cấp 2 (Tôi quên tên )
làm liên đội phó và anh Trần Quốc Trung làm thư ký .
Thực
ra khi đó tôi cũng không muốn làm vì tuổi đã qúa 15 đủ tuổi xuất đội lên thanh
niên. Bạn bè cùng trang lứa đã lên thanh niên cả, có anh đã được kết nạp Đoàn,
còn mình thì vẫn đeo khăn quàng đỏ ... Hơn nữa lại tự ty. Học trò nhà quê lên
Thị trấn chưa quen bạn bè, còn bỡ ngỡ nhưng do sự động viên của nhiều người,
đặc biệt là trao đổi bàn bạc, khéo léo dễ nghe của Thầy Bùi Hồng Sơn, tổng phụ
trách đội, lại chủ nhiệm, rồi thầy Lương Gia Tôn bí thư Đoàn trường rất mến
tôi, rồi lại anh Trần Quang An, Nguyễn Trọng Thư uỷ viên thưởng vụ, phó bí thư
Đoàn trường, thận mến tôi từ những năm học cấp 2 nay lại lên học cấp 3 với nhau ... Ai cũng
mến tôi vì thấy tôi tuy nhỏ nhưng khá nhanh nhẹn, hoạt bát hay hoạt động lại
ngoan và học được như thầy Nguyễn Hữu Lương chủ nhiệm suốt hai năm học lớp 6,
lớp 7 giới thiệu ... Lại được đại đa số đội viên tín nhiệm, ủng hộ. Ngày đại
hội số phiếu bầu cử lại cao. Lúc này không muốn cũng không được và đây cũng là
nguyên nhân khiến tôi phải chậm nghỉ hưu
mất 2 năm.
Đội ngũ giáo viên cấp 3 lúc đó còn ít,
mỗi môn chỉ một thầy giáo, có môn chưa có giáo viên, phải điều giáo viên cấp 2
lên dạy. Đã năm mươi năm trôi qua, tôi vẫn nhớ như in và khắc sâu trong tâm trí
tuổi thơ tôi tất cả các thầy năm học đầu tiên của khoá học 1962 – 1965 ấy :
Môn Văn: ngoài Thầy Hoàng Xuân Đính -
Hiệu trưởng còn có thầy Đặng Văn Ký.
Môn Toán: Thầy Đặng Huy Kháng ( Có dạy
một số tiết Nga Văn khi chưa có giáo viên )
Môn Vật Lý: Thầy Lương Gia Tôn
Môn Hoá Học:Thầy Ngô Hà
Môn sinh Vật : Thầy Nguyễn Duy Cường
Môn Lịch sử : Thầy Phó Đức Vượng ( Kiêm
dạy môn Địa Lý )
Môn Ngoại Ngữ : Thầy Bùi Hồng Sơn - dạy
Trung Văn
Môn Chính Trị : Thầy Mai Xuân Yêm
Môn Thể Dục : Thầy Nguyễn Văn Hùng
Môn Địa Lý : Chưa có giáo viên . Tạm thời
Thầy Vượng kiêm dạy một số tiết , số
tiết còn lại thầy Phan Xuân Chấn – Giáo viên cấp 2 lên dạy .
một
điều lý thú là sau này tôi và Thầy Chấn lại gặp nhau tại giảng đường trường đại
học sư phạm, cùng lớp cùng trong ban cán sự bộ môn .
Hai
năm tiếp số lớp cấp III có tăng lên nên
có thêm các thầy ở số môn : Văn : Thầy Bùi Văn Tý, Thầy Nguyễn Khắc Bút, toán :
Thầy Nguyễn Đình Tiêu, Lý : Thầy Ngô Văn
Cường và cô giáo Vân Nga dạy Nga Văn ...
Đó là các thầy cô giáo trực tiếp giảng
dạy chúng tôi trong khoá học đầu tiên ấy ...
Hằng mấy chục năm đã qua nhưng trong kí ức tôi - Cậu học trò bé nhỏ
hồi xưa ấy – luôn sáng lên hình ảnh người thầy đã từng dạy tôi khôn lớn nên
người ... bởi mỗi học trò chúng tôi thủa ấy ai nấy đều có ý thức tôn sư trọng
đạo và thấy được hiếu học là đức tính cần thiết để làm nên sự nghiệp. Các thầy
đã dạy cho chúng tôi phải chăm học bởi học trở thành một bậc thang giá trị
trong xã hội. Hệ quả tất yếu là xã hội đánh giá cao người có tri thức, có văn
hoá ...
Tôi
cứ nhớ mãi hình ảnh mỗi một thầy giáo lên lớp, đứng trên bục giảng cho chúng
tôi bài học biết làm người, biết yêu quê hương đất nước, quý trọng nhân dân và
tôn trọng nhân cách con người qua những tiết học, hoặc đêm khuya chong đèn chấm
từng bài tập toán , lý khó mà học trò làm sai, nhất là những bài văn dài thầy
phải chấm từng từ, từng câu trong bài làm của học sinh để làm cho chúng tôi
hiểu được ngôn ngữ của dân tộc ta phong phú, tươi đẹp biết chừng nào ... Điều
quan trọng nhất mà chúng tôi thu nhận được từ các thầy là cần phải học. Đó là
nguồn tri thức quý giá bồi dưỡng trí tuệ trong tâm tư tình cảm của mỗi chúng
tôi nuôi lớn những khát vọng .
Có thể nói bóng dáng các Thầy vẫn sáng mãi
trong tôi bởi thầy là trí tuệ, là lương tri, là niềm kiêu hãnh cho chúng tôi,
những học trò luôn luôn cầu tiến bộ . Thời ấy khi trò chuyện với chúng tôi các
thầy thường mở rộng tới nhiều vấn đề, liên hệ cái này cái kia mà sau này khi
lớn lên hơn, trưởng thành hơn, chúng tôi mới hiểu được đó là những vấn đề thuộc
về nhận thức xã hội, lịch sử, nhân văn
...
Hai năm đầu (Lớp 8, 9 ) đều tốt đẹp, học
yên vui, sôi nổi, rất nghiêm túc. Ngoài việc lên lớp phải thực hiện đúng nội
quy, quy chế chuyên môn, nhà trường còn có nhiều biện pháp thích đáng để học
tập tốt; Nhiều hoạt động ngoại khoá, bổ sung cho nội khoá tạo điều kiện tốt cho
học sinh học tập đạt kết quả cao (Tất nhiên do giáo viên chủ nhiệm và giáo viên
bộ môn cùng với ban cán sự lớp tổ chức, chủ trì, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của
ban lãnh đạo nhà trường và các tổ chuyên môn). Tổ chức tốt cho học sinh các
hoạt động văn nghệ TDTT, cuộc thi về “Đọc và làm theo sách báo, theo pháp luật,
các cuộc thi tìm hiểu về Đảng, về Bác Hồ, về Đoàn Đội về các anh hùng chiến sĩ
thi đua ...
Ngoài ra để tạo điều kiện tốt cho giảng
dạy, học tập mỗi chi đoàn lớp, mỗi đội có một tờ báo tường. Liên đội cấp 2, 3
chúng tôi cũng ra được tờ báo “ MĂNG NON” do anh Trần Quốc Trung (Chi đội 7 A)
làm thư kí liên đội chủ biên tập . Nội
dung tờ báo qua các bài báo phản ánh
tình hình học tập công tác rèn luyện trong trường, trong lớp, gồm các thể loại
: Thơ, ca, hò vè văn xuôi (Truyện ngắn, ký ) kịch ngắn, tranh vẽ ...
Tôi nhớ mãi hai vở kịch mà Thầy Đính sáng
tác và đạo diễn, tập cho nhóm kịch của đội văn nghệ trường biểu diễn “ Hay, hay
” và “ Nhất cụ chứ ”, rất hay diễn xuất tốt, gây được cảm tình với người xem
như học sinh chúng tôi và khán giả trong Thị trấn Thái Hoà .
Nhắc đến thầy Đính, tôi không sao quên
được thầy là một con người có một tác phong giản dị, tính tình vui vẻ, cởi mở,
đồng thời có một phong thái kết hợp hài hoà giữa sự nghiêm túc sư phạm xứng
danh một nhà giáo với “Chất thẩm thấu văn chương ”. Bao năm qua tôi vẫn
nhớ một thầy hiệu trưởng - một nhà quản
lý giáo dục xuất sắc, một nhà giáo tâm huyết không chỉ với sự nghiệp trồng
người mà còn là một nghệ sỹ đam mê văn học. Thầy rất tâm đắc với các tác phẩm
văn thơ, kịch, nhất là kịch hiện đại, nói về cuộc sống mới, con người mới ... Thầy luôn nhắc nhở chúng tôi thấy chức năng của văn học, nhất là chức năng“Tải
đạo ”, văn học vốn dĩ gắn bó với việc giáo dục tư tưởng, góp phần đào tạo con
người mới. Qua các bài giảng văn Thầy truyền cho học sinh những cái hay, cái
đẹp của văn chương. Bài giảng của thầy lúc nào cũng sôi động, hấp dẫn, thu hút
sự chú ý của học trò. Trong mỗi bài giảng văn Thầy như dồn hết tâm huyết để
truyền cho học sinh lòng say mê học tập.
Thầy dạy : “ Học văn để hiểu cuộc đời, am hiểu cuộc sống và điều quan trọng
hơn, sâu sắc hơn : “ Hiểu để mà tin” và từ “tin ” để “hiểu ”. Đó cũng là phương
châm sống, phương châm hành động của thầy và Thầy đã truyền lại cho học sinh.
Và đó cũng là tư tưởng chủ đạo cho tờ báo “Kỷ niệm ngày hiến chương nhà giáo 20
– 11 và các ngày lễ lớn trong năm. Ngoài ra tờ báo còn giới thiệu các bài tập
khó các môn khoa học tự nhiên, tất nhiên có lời giải đáp – theo cách tuần này
nêu ra câu hỏi, bài tập, tuần sau giải đáp) . Và để có sức hấp dẫn thêm phong
phú mỗi tờ báo tường còn có mục đố vui, truyện cười hiện đại ...
Ngoài chương trình nội khoá, nhà trường
còn tổ chức các buổi ngoại khoá có chất lượng. Tôi còn nhớ tiếc những buổi lên
lớp tập trung chung cho cả khối, những buổi Xê – Mi – Na hái hoa
chất lượng, đọc, bình thơ, ngâm thơ ca hát và nhất là những buổi ngoại khoá văn
học đầy hứng thú mà ở đó thầy trò chúng tôi trao đổi tranh luận sôi nổi về tội
tình và công trạng của cha con An - Dương - Vương; về tội ác, ách áp bức bóc
lột của bọn chúa đất thời xưa; Về cuộc sống cùng cực của người nông dân, thân
phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua hình ảnh con cò, con rùa, con hạc ...
Có thể nói trong công tác chuyên môn,
ngoài việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên có phẩm chất, có năng
lực; Nhà trường còn tổ chức cho giáo
viên
và học sinh mà đoàn là trở lực là nội
xung kích đòn xeo thúc đẩy tạo những hoạt động bổ ích, tổ chức những hoạt động
văn hoá, văn nghệ khá sôi nổi, những buổi trao đổi sáng kiến kinh nghiệm khá
thiết thực, tất cả tạo cơ sở cho việc dạy tốt, học tốt của thầy và trò. Coi đây
là khâu then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ... Tôi nhớ báo cáo
trao đội kinh nghiệm về phương pháp học tập - của anh Trịnh Đức Quang (Lớp 8
A), một báo cáo khá hấp dẫn và lý thú; Nêu lên một số kinh nghiệm thiết thực,
để bạn bè học tập. Đây là báo cáo của một học sinh giỏi toàn diện được đánh giá
cao. Hiện nay anh là cán bộ giảng dạy Trường đại học sư phạm Huế. Năm thứ hai
của chúng tôi, Khoá II (1963- 1966 ) có báo cáo của anh Nguyễn Trọng Nhưng, học
sinh giỏi đều các môn khoa học tự nhiên được nhà trường và bạn bè đánh giá tốt,
có chất lượng, rất bổ ích cho học sinh, nhất là xa nhà, ở trọ như chúng tôi.
Hiện anh là giám đốc tổng công ty thiết kế và xây dựng dầu khí thuộc liên doanh
dầu khí Việt – Xô, Thành phố Vũng Tàu. Ngoài ra nhà trường còn tổ chức các hoạt
động VNTDTT, dã ngoại, đi thực tế, tham quan các khu di tích lịch sử sưu tầm
VHDG các dât tộc miền núi, miền tây Xứ Nghệ.
Trong những năm đầu mới thành lập, cùng với
phong trào chung của nhà trường, Đoàn trường cấp 3 Nghĩa Đàn tuy còn non trẻ
nhưng đã làm tròn chức năng nhiệm vụ của mình. Ngoài việc cùng với công đoàn,
với chuyên môn nhà trường tổ chức những buổi trao đội kinh nghiệm học tập thiết
thực, những đợt học tập chính trị điều lệ đội, giới thiệu qua điều lệ Đoàn ...
còn tổ chức những hoạt động sinh hoạt sôi nổi, bổ ích cho Đội thiếu niên, hướng
dẫn chỉ đạo dìu dắt đội, từng bước tiến lên ... Đoàn trường thực sự là tổ chức
giáo dục rèn luyện đạo đức cho thanh thiếu niên. từ đó có sức lôi cuốn, thúc
đẩy đội viên có ý thức phân đấu vươn lên Đoàn để được trong hàng ngũ đoàn. Ví
như các buổi hội họp, sinh hoạt bình xét đội viên ưu tú xuất sắc để giới thiệu
cho Đoàn, các buổi lễ kết nạp Đoàn đã được tổ chức rất chu đáo trọng thể, trang
nghiêm và thành kính. Và tôi lại được vinh dự lớn là sau hơn một năm làm công
tác đội, liên đội được huyện đoàn Nghĩa Đàn tặng giấy khen và đề nghỉ tỉnh Đoàn
khen thưởng cùng với một số đội viên ưu tú được đoàn cấp trên khen, tôi được
ban chỉ huy liên đội và tổng phụ trách đội thầy Bùi Hồng Sơn giới thiệu thẳng
lên đoàn và được tổ chức kết nạp vào
ngày 22 tháng 12 năm 1963 một ngày có
một ý nghĩa rất lớn trên con đường đi và bước trưởng thành của tôi thời thơ ấu
...
Tất cả những việc làm đó đã thúc đẩy, động
viên khuyến khích cổ vũ chúng tôi học tập, công tác tốt, Công tác thì như vậy
còn học tập, ai nấy đều ham học, có ý thức học tập và càng học càng quý thời
gian. Ngoài thời gian đến trường, lên
lớp – chúng tôi không chỉ học sinh ở xa trọ học không có việc nhà, được nhiều
thời gian học mà cả các bạn cùng khối lớp nhà ở gần trường : Thị trấn Thái Hoà , Quyết Thắng, Nghĩa Hoà, Nghĩa
Quang ... tất cả đều lo lắng, chăm chỉ học tập . Tất nhiên vẫn có thời gian để
giúp việc gia đình, thời gian vui chơi giải trí (Có kế hoạch thời gian biểu cụ
thể ). Chúng tôi tranh thủ cả lúc trên đường đi học đi lấy củi, gánh nước cả
thổi cơm, nhặt rau ...
Chúng tôi những học sinh ở xa hàng tuần
phải đi bộ từ 25- 30 km về nhà lấy
lương
thực, thực phẩm. Lương thực chủ yếu ngô, khoai sắn cõng vài cân gạo . thức ăn
độc nhất một trong hai món: muối vừng, măng muối kho mặn, khá giả thỉnh thoảng
có chút cá mắm .
Tuần nào cũng vậy trưa thứ 7, sau tiết
sinh hoạt là chúng tôi cuốc bộ về nhà. Nhiều anh muốn đi nhanh để kịp đi làm
buổi chiều tham gia lao động sản xuất với gia đình, với hợp tác xã kiếm dăm ba
điểm (Điểm ăn chia của hợp tác xã 10 điểm
một công. Nếu làm cả chiều thứ 7 và sáng chủ nhật cũng được một công –
sau quy ra thóc tuỳ theo sản lượng thu nhập vụ mùa) .
Ngày ấy làm gì có xe máy, nhảy ô tô đi ta
xi, xe buýt như bây giờ. Xe đạp còn hiếm, ít ỏi. Học sinh cả mấy xã phía tây –
nam Nghĩa Đàn đông như vậy mà cũng chỉ có vài ba chiếc xe đạp. Riêng tôi được
cái may mắn hơn là làm liên Đội trưởng có thành tích xuất sắc được phân mua môt
chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô giá cung cấp thế nhưng hầu hết cũng đi bộ cho
vui, cùng “ đồng cam cọng khổ ” mà .
Chúng tôi không cần ai nhắc nhở, rất tự
nguyện tự giác học tập, vì thấy trong điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, cố
gắng khắc phục tạo điều kiện cho ăn học thì càng lại thấy giá trị của viêc học
tập. Nhất là cái giá mà gia đình, nhà trường đã đổ ra để nuôi nấng, dạy giỗ -
chúng tôi khôn lớn trưởng thành ... Trong thi đua có lúc còn bộc lộ sự ganh
đua; thua kém bạn môt vài điểm, có khi chỉ nửa điềm là đã thấy thế nào ấy.
Không may hôm nào đó bị điểm yếu bất kể môn nào là về nhà ăn không ngon, ngủ không
yên , “trằn trọc băn khoăn ” - Một bài kiểm tra dù 1 tiết hay 15 phút cảm thấy
chưa hoàn chỉnh, chưa thoả mãn là day dứt suốt ngày, lúc nào cũng tâm niệm về
bài tập ấy ...
Việc học tập của chúng tôi ngày ấy cũng
khác bây giờ. Mối tuần học 6 buổi, 1 buổi lao động. Không có học thêm Thầy cũng
không dạy thêm. học sinh học yếu được thầy bộ môn phân công, giao cho học sinh
khá, giỏi kèm cặp, giúp đỡ. Ngoài ra còn tổ chức học nhóm. Dăm ba người một
nhóm học tập. Mỗi tuần một vài buổi, chủ yếu giải đáp thắc mắc, giải bài tập
khó (Có nhóm trưởng phụ trách - chịu trách nhiệm ). Một điều gây khó khăn cho
chúng tôi trong học tập lúc đó là sách giáo khoa, tài liệu tham khảo hầu như
không có, có chăng cũng rất ít. Thầy chỉ có sách giáo khoa rồi tự biên soạn
giáo án lên lớp, trò chỉ ghi chép rồi học . Riêng khâu chép bài tập về nhà làm
cúng đã mất nhiều thời gian ...
Kết thúc hai năm đầu học cấp ba của chúng
tôi khá tốt đẹp. Riêng học sinh Nghĩa Đồng chúng tôi có sáu trên bảy (khoá I)
cả hai năm học đều đạt học sinh tiên tiến được nhà trường khen thưởng. Trong đó
có 2 học sinh tiên tiến xuất sắc . Nguyễn Công Hoà, Phạm Quang Duệ. Khoá II có
2 học sinh giỏi toàn diện : Nguyễn Trọng Nhưng, Trần Quang Mai. Thật là vui
mừng, phấn khởi đáng tự hào.
Bước sang năm học 1964 – 1965, năm cuối
của khoá học thứ nhất của chúng tôi nổ ra cuộc chiến tranh
leo thang ra Miền Bắc - của đế quốc Mỹ. Trường cấp 3 Nghĩa Đàn phải sơ tán,
chuyển dời nhiều địa điểm. Trong mấy tháng đầu của năm học ấy, trường chuyển
qua Tây Hiếu học ban đêm, tại xưởng 250. Nhưng vẫn không ổn. Xưởng 250 lại nằm
trong vùng trọng điểm – Con đường 15A đi
qua có phà lở Nghĩa Quang, có bến phà Thái Hoà trên đường quốc lộ 48 nối liền
Đông Hiếu – Tây Hiếu. Đây là một trong những mục tiêu quan trọng, máy bay địch
có thể bắn phá, thả bom bất ký lúc nào .. Hơn nữa học sinh hầu hết ở phía Đông
sông Hiếu đi lại khó khăn, phải qua sông bất tiện. Có hôm khi qua đò, phà, có
còi báo động, nghe tiếng máy bay, xô đẩy nhau tranh nhau, sẩy chân té ngã ướt
cả quần áo, sách vở ... Sau vụ ném bom bắn phá vùng biển đảo Bạch Long Vĩ ngày
5/ 8 , vẫn chưa thấy động tĩnh gì ở vùng Tây Bắc Nghệ An này, thầy và trò, các
khối lớp lại chuyển về trường cũ .
Sang học kì II, những ngày đầu của năm 1965, cuộc chiến tranh ngày một ác liệt hơn, khu vực trường nằm trong vùng trọng điểm, nhà trường lại phải chuyển dời địa điểm, sơ tán vào rừng núi Nghĩa Hoà. Vẫn chưa yên, nay ở vị tri này, mai lại đến vị trí khác. Và từ sau vụ máy bay Mỹ ném bom đánh phá sân bay Cát Mộng (ngày 15 – 3 – 1965) trường lại chuyển qua vùng rừng núi Nghĩa Trung. Có thể nói những ngày tháng chiến tranh Thầy và trò vừa chăm lo học tập , vừa sẵn sàng chiến đấu – Sơ tán trường lớp, lao động đào, đắp hầm hào. Mỗi địa điểm là một hầm cá nhân, một dãy giao thông hào. Máy bay Mỹ dòm ngó, bắn phá nơi này, ta lại chuyển dời đi nơi khác – tránh vùng trọng điểm, mục tiêu ... Nhà trường luôn luôn thay đội địa điểm .
Sang học kì II, những ngày đầu của năm 1965, cuộc chiến tranh ngày một ác liệt hơn, khu vực trường nằm trong vùng trọng điểm, nhà trường lại phải chuyển dời địa điểm, sơ tán vào rừng núi Nghĩa Hoà. Vẫn chưa yên, nay ở vị tri này, mai lại đến vị trí khác. Và từ sau vụ máy bay Mỹ ném bom đánh phá sân bay Cát Mộng (ngày 15 – 3 – 1965) trường lại chuyển qua vùng rừng núi Nghĩa Trung. Có thể nói những ngày tháng chiến tranh Thầy và trò vừa chăm lo học tập , vừa sẵn sàng chiến đấu – Sơ tán trường lớp, lao động đào, đắp hầm hào. Mỗi địa điểm là một hầm cá nhân, một dãy giao thông hào. Máy bay Mỹ dòm ngó, bắn phá nơi này, ta lại chuyển dời đi nơi khác – tránh vùng trọng điểm, mục tiêu ... Nhà trường luôn luôn thay đội địa điểm .
Nói là trường nhưng chẳng có trường, lớp
học cũng không có . Không trường, không lớp. không bàn ghế, không bảng đen.
Thầy và trò các lớp ngồi quây quần dưới gốc cây xum xuê cành lá, chung quanh rừng cây rậm rạp. Ghế
ngồi của học trò chúng tôi lúc đó là đôi dép cao su, trên đặt vòng ngụy trang
đã cắm lá cây rừng còn bàn viết là quyển sách đặt trên hai đầu gối. Thầy giáo
thì tất nhiên chỉ có đứng. Có hôm dạy
nhiều lớp, nhiều tiết thầy phải đứng suốt buổi. chiến tranh khó khăn gian khổ
là thế, nhưng thầy trò vẫn vui vẻ, phấn khởi cố gắng khắc phục hoàn cảnh, không
một ai bỏ học, sỉ số luôn luôn đảm bảo hữu hạn mới có một vài buổi có một hai
học sinh nghỉ vì lý do đột xuất. Buổi học nào cũng đảm bảo giờ giấc, thực hiện đúng nội quy học tập, nề
nếp giảng dạy theo phân phối chương trình quy chế chuyên môn ... hầu như hôm
nào cũng vậy, Trên bầu trời máy bay địch gầm rú điên cuồng, lồng lộn tìm kiếm
mục tiêu đánh phá; dưới tán cây rừng thầy vẫn dạy, trò vẫn học. Cho nên các môn
học ( kể cả những môn không thi tốt nghiệp) vẫn thực hiện đúng chương trình, theo kế hoạch và thơi gian
quy định, không bị cắt xén. Bởi tất cả thầy và trò ai ai cũng có quyết tâm đạt
kết quả cao về mọi mặt, đặng hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học, khoá học ...
Tốt nghiệp phổ thông cấp 3 khoá học chúng
tôi có hai nhiệm vụ chính : Một là đi học đại học chuyên nghiệp trong và ngoài
nước; hai là tham gia nhập ngũ đi chiến trường đánh Mỹ. Sau này điểm lại khoá
I, khoá đầu tiên của trường cấp 3 Nghĩa Đàn đa số là đi học đại học chuyên
nghiệp. trong đó khá đông đi vào ngành sư phạm. Bộ ba chúng tôi mà các bạn hay
nói vui là “ Tổ tam tam tiêu biểu ” Là một trong những số đó .
Thấm thoát đã 50 năm , hình ảnh mái trường
xưa , các thầy cô giáo và học sinh bạn bè cùng trang lứa đã lùi xa hàng nửa thế
kỉ nhưng những kỉ niệm những hình ảnh đẹp vẫn hiển hiện trong tâm trí tôi
thật rõ nét , như hiện ra trước mắt tôi những gương mặt thân quen bạn bè một
thủa . Tôi có cảm giác như tất cả còn ở đâu đây , như vưa mới chia xa nhau vậy
. Một cảm giác xa vời vợi nhưng lai rất gần gủi thân quen ...
Thời gian trôi qua lứa học trò thủa ấy,
lớp chim non đầu tiên của trường cấp 3 Nghĩa Đàn khi đã đủ lông cánh đã bay khắp
muôn phương, mỗi người mỗi ngả. Nay có người còn người mất. Số người còn giờ
mái đầu đã bạc, đã thành ông, thành bà. Nhưng tất cả đã hoàn thành sự nghiệp.
Nhiều người thành danh, có nhiều người đóng góp sức lực và trí tuệ cho đất nước
mang lại niềm vui, đáng tự hào cho nhà trường, cho các thế hệ học sinh sau này
...
Mỗi lần nghĩ tới trường, nghĩ tới những
năm tháng đã qua, tôi không sao quên được cái ngày khởi đầu gian nan mà hào
hứng sôi nổi ấy .
Xứ Nghệ - Miền Tây
Một ngày đầu thu 1992 - 2012
Phạm Văn Du
4/ Thời sinh viên (viết về khoa văn
trường đại học SP Vinh những năm cuối thập kỷ 60- thời chiến tranh Mỹ leo thang
ra miền Bắc)
Chương IV:TRƯỜNG ĐỜI-
TRƯỞNG THÀNH
1/ Đi Việt Bắc- Thái Nguyên
2/ Thư học trò
3/ Thiên tiểu thuyết toàn “T”
4/ chia tay học sinh lớp 12 ra trường-
tâm sự với đồng nghiệp khi nghỉ hưu
THƯ HỌC TRÒ
Thầy kính yêu của em!
Trên bàn, trước mặt tờ giấy pơ luya còn
trắng tinh, chiếc bút cầm trên tay, em muốn viết cho thầy những dòng chữ bằng
những lời chân thành sâu thẳm từ đáy lòng mình, nhưng em lại không biết
viết như thế nào, bắt đầu từ đâu. Có lẽ
là từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ bước chân vào lớp 8C mà thầy chủ nhiệm. Ngày ấy
đã đi xa lắm rồi, nhưng em vẫn còn nhớ như in...mà sao quên được hả thầy.
Trước hết em xin phép thầy vẫn được xưng
em như xưa. Nhưng gọi thầy với hai nghĩa: Dạy học- Người cha. Bởi lẽ thầy đã
dạy dỗ, quan tâm giáo dục chúng em không chỉ là trách nhiệm của một nhà sư
phạm- của một thầy giáo dạy học mà bằng cả tấm lòng của người cha, người mẹ:
Nghiêm khắc nhưng lại nhân từ, độ lượng và công bằng. Thầy coi chúng em như
những đứa con của thầy, bày dạy đến nơi, đến chốn.
Thầy kính quý! Một năm học nữa lại đến.
Mỗi năm học qua đi lại làm khoảng cách xa của thầy trò ta về thời gian. Và đã
bao nhiêu năm rồi thầy nhỉ- Kể từ ngày khai giảng đầu tiên ấy. Thế mà xuýt xoát
40 năm rồi đấy. nhà trường đang có kế hoạch chuẩn bị kỷ niệm ngày thành lập
trường...
Hôm nay trong những ngày tựu trường chuẩn
bị cho năm học mới, chuẩn bị cho ngày thành lập trường, ngồi trong văn phòng
ngôi trường mới, từ đất trời Thái Nguyên xa xôi về khoảng cách không gian, em
viết thư gửi thăm thầy cô và gia đình sao mà thấy lòng mình bâng khuâng xao
xuyến thế...Hình ảnh thầy cũ trường xưa- Trường cấp 3 Đồng Hỷ năm nào còn ở
Linh Sơn, phía bên kia sông Cầu cứ hiện lên trong tâm trí em, như một cuốn phim
cận cảnh đang hiện dần trước mắt em...
Chắc thầy còn nhớ. Buổi đầu tiên vào lớp
(giờ văn tiết 1- 8C ấy mà), thầy xách chiếc cặp da đựng hồ sơ giáo án đứng
nghiêm nhìn xuống lớp rồi nở nụ cười chào rất vui, rất tình cảm và gần gũi,
bỗng thầy nghiêm nét mặt. Nụ cười trên môi vừa hé nở phút chốc biến mất lại
hiện lên mấy nếp nhăn trên trán; vì cả lớp đứng lên chào thầy, có mấy bạn tự
nhiên lại cười. Lúc đó thầy không nói gì cả nhưng qua thái độ và nét mặt em
biết rằng thầy rất buồn, cho đó là thiếu nghiêm túc. Chúng em sợ lắm, đứa nọ
liếc nhìn đứa kia và im bặt. Giây phút đó trở đi chẳng đứa nào dám nói năng gì
nữa. Giờ học rất im lặng và có phần căng thẳng. Hết giờ thầy phán một câu xanh
rờn: Cuối buổi cả lớp ở lại tự kiểm điểm tìm ra nguyên nhân gây tiếng cười đầu
tiết. Từ sau tiết đó cứ đến giờ thầy, lớp rất im lặng và tỏ ra quá nghiêm túc
(im lặng, nghiêm túc trong lo sợ, căng thẳng). Nhưng rồi chỉ tuần đầu thôi- cụ
thể là 3 tiết văn còn lại. Thầy biết không, khi chúng em đã quen nhau, biết
thầy, gần gũi và hiểu thầy, chúng em lại vui vẻ, cười đùa, chuyện trò rôm rả
lúc ra chơi. Lúc này mới vỡ lẽ ra mấy bạn cười hôm ấy là do trước đó, hôm thầy
mới về trường cùng đi một đoạn đường từ thành phố qua Linh sơn- mấy bạn đi trực
trường. Tưởng thầy là học sinh lớp 10 mới chuyển về trường (vì trong hành lí có
bộ sách giáo khoa lớp 10) nên cứ xưng em và gọi anh tự nhiên ngọt xớt, khi lên
đò qua sông Cầu lại đùa nghịch té nước làm ướt hành lý thầy...Dù thầy không còn
để ý nhớ lại. Bởi có để ý thì thầy cũng chẳng làm gì vì đó chỉ là trò đùa
nghịch ngợm của học trò mà học trò lại xếp thứ ba sau “ma”, “quỷ” mà “ma, quỷ”
chẳng có cho nên cũng chỉ có học trò nghịch nhất có phải thế không thầy? Thầy
biết không? Sau thời gian được học thầy, lại ở lớp thầy chủ nhiệm được gần gũi
thầy, được biết nhiều về thầy- một giáo viên trẻ- nói cách khác mốt sinh viên
vừa mới tốt nghiệp ĐHSP mới bước vào nghề mà cũng là lần đầu xa quê. Và không
nói chúng em cũng biết: Cuộc sống xa quê, xa nhà biết bao những lo toan vất vả,
nhọc nhằn...Và nỗi nhớ quê, nhớ nhà chắc không thể không có trong thầy.
Thầy hay kể chuyện trong quê làm chúng em
thèm đi thăm quê thầy- quê Bác Hồ thế. Nơi mà đã từ xưa ai cũng thích và ngợi
ca “Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”...Những buổi liên hoan, những lúc chia
tay về tết: về hè hay tổng kết năm học thầy lại hát cho chúng em nghe. Chúng em
vẫn còn nhớ mãi hai bài thầy hay hát buổi đầu gặp gỡ: “Xai peng noong ơi”- Đón
xuân- dân ca Thái. Tan cuộc chia tay bài “z hài z hen”- Tạm biệt (Tiếng trung
quốc). Khi cảm xúc lớn thầy lại làm thơ đọc tặng...Khi đã hiểu thầy, nắm bắt
được tâm tư tình cảm của thầy đối với trò, có bạn đã có ý “làm nũng” thầy, chắc
thầy vẫn còn nhớ Hồ Hòa, Ngô Hải, Cẩm Báu, Cái Đạt và Bích Hạnh chứ?Bọn chúng
cứ nhắc thầy luôn. Hôm gặp mặt hội khóa 1969-1972 bọn chúng cứ nhắc hoài thầy,
nhất là cái lớp mà thầy cứ bảo “ríu rít như đàn chim non” ấy – Không biết lúc
đó thầy có “hắt hơi” , “nóng ruột”, “vấp ngã”
không?
Gần gũi thầy em lại thấy được nỗi vất vả
nhọc nhằn của thầy trên bục giảng. Những giọt mồ hôi thấm áo trong những ngày
hè nóng nực, cái giá rét cóng tay khi cầm viên phấn viết lên bảng những con chữ
trao lại cho chúng em kiến thức văn chương trong những ngày đông giá lạnh. Hay
những đêm thao thức soạn bài để ngày mai lên lớp v.v và v.v Thầy làm việc cần
mẫn mẫu mực. mẫu mực từ bài soạn đến cách trình bày bảng, cách giảng bài trên
lớp, em nhớ mãi tiếng nói ấm áp của thầy làm cho những giờ học văn của thầy
chúng em thấy dễ nghe và hấp dẫn tiếp thu bài dễ dàng- dù có lúc tiếng thầy vẫn
“trọ trẹ” giọng miền quê xứ nghệ. Có những đoạn thầy thì say sưa giảng, trò thì
vừa lắng nghe vừa ghi chép kiểu tốc ký, chỉ sợ không ghi hết lời thầy giảng
(bởi thời đó làm gì có sách giáo khoa và tài liệu tham khảo như bây giờ- học
sinh học chủ yếu trong vở ghi). Thấy học trò ghi nhiều, nhiều quá- thầy đùa:
“Nhớ mở ngoặc thầy ho nhé” (chả là thầy mới thấm cái rét Thái Nguyên bị viêm
họng) – Cả lớp lại cười rộn lên. Thầy khuyên “Không cần ghi nhiều, chỉ cần ghi
ý chính theo hệ thống dàn bài trên bảng – ý nào trọng tâm thầy nói chậm các em
ghi – ghi theo cách cảm nhận và hiểu của mình là được. Có những khi chúng em
chỉ ngồi nghe, không ghi. Thậm chí có bạn cứ ngồi ngây ra, mồm há hốc tưởng
chừng như nuốt từng lời giảng của thầy...Bởi giảng bất kỳ thể loại gì, thơ hay
văn xuôi qua lời thầy giảng chúng em cứ thấy hiện lên trước mắt, dù có nhắm mắt
lại vẫn thấy thấp thoáng những hình ảnh rất đơn sơ và sinh động. Biết bao nhiêu
bài văn đã khắc sâu trong tâm khảm em mà sâu sắc nhất là bài “Đường chúng ta
đi” của Nguyễn Trung Thành và “Việt Bắc” của Tố Hữu. Có thể nói những bài văn
của thầy rất sinh động, thuyết phục, cuốn hút chúng em vào một thế giới mộng mơ
kỳ lạ. và em say mê học văn, trở thành một học sinh giỏi văn cũng chính một
phần nhờ vào những bài giảng hay, say sưa và hấp dẫn đó của thầy. Em được thầy
thương yêu, quý mến có lẽ không chỉ là một cô bé ngoan, lễ phép học đều các môn
mà còn là một học sinh học tốt môn văn của thầy. Có phải thế không thầy.
Thời gian dần trôi qua, với những bài
giảng hấp dẫn, dễ hiểu của thầy, làm cho em tự tin hơn với ước mơ của mình sau
này sẽ trở thành cô giáo dạy văn- nối tiếp bước đi của thầy, trở thành người
lái đò như thầy đã nói “thầy chỉ là người lái đò đưa khách qua sông”- Cảm ơn
thầy- người đã nhen nhóm cho em thêm những ước mơ.
Thầy ơi! Vui nhất là những cuộc đi cắm
trại hay vào rừng lấy nứa, chặt gỗ về làm lán, dựng phòng học nhỉ. Em nhớ lần đi
rừng Linh Sơn lấy củi đốt lửa trại. Chúng em nghĩ thầy không leo được dốc,
không chặt được củi- kể cả những cây củi to dao nhỏ khó chặt, thầy làm khỏe hơn
cả những bạn nam khỏe nhất lớp như bạn Kiều Sơn, La Thập, Minh Chính, Phạm
Quý...Lại hôm thầy dẫn đoàn viên đoàn trường vào rừng Tân Cương (vùng ấy nay là
Hồ Núi Cốc) lấy gỗ, chặt nứa về làm lán (lớp học) và lát hầm tránh máy bay (thời
kỳ Mỹ rải thảm B52 Miền Bắc)- Do đoàn trường phát động. Hơn 600 Đoàn viên học
sinh cùng chi đoàn giáo viên trèo đèo, lội suối, vượt sông chặt cây lấy nứa,
vất vả, mệt nhọc nhưng vẫn vui vẻ, vẫn trêu đùa nhau chuyện trò rôm rả, không
biết mệt là gì. Khi thầy trò nghỉ ngơi nô đùa trong lòng suối, dưới sông đố ai
phân biệt được đâu là thầy, đâu là trò. Một bạn nói đùa cho vui “Ở trường, ở
lớp thầy dạy chúng ta cái chữ, dạy chúng ta làm người, ở đây thầy trò vui đùa
cho thoải mái – nhất là hôm nay với danh nghĩa là đoàn viên, tình đồng chí với
nhau. Và về vóc dáng Thầy trò cũng như hạt thóc, hạt gạo thôi, ai biết đâu là
thầy đâu là trò,Thầy nhỉ, cứ vui...”
Tết năm 1971, chiến tranh ác liệt, tàu xe
đi lại khó khăn, thầy không về quê được. Đêm giao thừa chúng em mang hoa, quà
đến trường thăm và chúc tết thầy, cùng đón xuân mới trong căn phòng đơn sơ của
thầy. Chúng em hiểu tâm trạng thầy lúc đó. Xa quê, nhớ nhà, nhớ mẹ và như thầy
nói nhớ cả “aiwen” (người yêu nữa...Bởi ngày ấy thầy cũng chỉ là sinh viên mới
vào ngành vài ba năm lần đầu xa quê, ăn tết trên “đất khách quê người” phải thế
không thầy. Hiểu điều đó, chúng em hẹn nhau đi đến trường cùng đón giao thừa
vui xuân mừng năm mới với thầy. Lúc đó sao mà vui vẻ, đầm ấm quá thầy nhỉ. À
lúc đó thầy chưa uống được rượu đâu nhé- dù đó là chai rượu bổ canh ki na mà
chúng em đưa đến chúc tết thầy, mừng tuổi cho thầy. Thầy chỉ thích nước đun sôi
cho vào chai thủy tinh đậy kín và thích hai món thầy cho là khoái khẩu đó là
bánh mì và cơm rang giòn (rang đến khi hạt cơm trở lại gần như hạt gạo nhảy tí
tách trên chảo) đúng không ạ? Bao lần hội tụ họp khóa, anh Văn Bộ khi nhắc đến
thầy thường gợi lại chi tiết này và em cũng không sao quên được những ngày bồi
dưỡng thi học sinh giỏi miền bắc tại ty giáo dục mà có cả những bạn ở các
trường trong tỉnh đạt học sinh giỏi tỉnh. Có thể nói đó là cả thời gian tươi
trẻ và vui nhất của tuổi học trò của bọn em đấy. Vậy mà đã qua rồi những ngày
vui ấy. Nhất là những bữa cơm thân mật có cả hai đội tuyển văn, toán; thầy trò
cùng chung mâm chuyện trò vui vẻ.
Chắc thầy còn nhớ buổi chia tay, ngày kết
thúc đợt bồi dưỡng bọn cái Hòa,
Hà,
Lan, Hạnh, Hoài (lớp văn) và cả Văn Thịnh cùng số bạn lớp toán của thầy Tài Công,
đứa nào cũng mắt đỏ hoe, nước mắt lưng tròng...lưu luyến bịn rịn khi phải xa các
thầy, xa bạn bè để về trường chuẩn bị cho kỳ thi tuyển học sinh giỏi toàn miền
bắc và sau đó là bước vào những ngày ôn tập bận rộn của những ngày học cuối
trên ghế nhà trường để thi tốt nghiệp phổ thông.
Nhớ thầy, em không chỉ nhớ những niềm vui
nho nhỏ của chúng em đem lại cho thầy và những điều quí giá mà thầy truyền lại
cho chúng em mà cả những điều chúng em làm cho thầy có lúc phiền lòng, không
vui. Chắc thầy đã quên, năm học lớp 10, một lần thầy gọi em lên bảng, bài học
nắm chưa sâu- hiểu nhưng trả lời còn chung chung, bài lại chưa soạn, em không
nói rõ lí do, thầy cho điểm 5 (điểm mà lâu nay em chưa hề có- học sinh giỏi văn
của thầy đạt giải 2 tỉnh cơ mà); lúc về chỗ em có thái độ không tốt, mặt xị xị
cau cáu, gắt gỏng với bạn bè, vẻ bực tức, thầy hỏi gì cũng không trả lời. Các
bạn nhìn em với thái độ khó chịu...Em thật vô lễ, lại không đủ can đảm dám đứng
lên nói rõ lí do xin lỗi thầy, xin lỗi trước lớp, làm cho thầy lúc đó có buồn –
buồn nhưng không bực phải không thầy? Thế mà thầy vẫn tha thứ cho em. Em không
biết nói gì hơn. Em cảm ơn thầy lắm lắm. Biết ơn lòng khoan dung, độ lượng của
thầy. Ôi! Em thật vô tình quá. Có đi quá xa không thầy? Em mải chuyện đâu đâu
ấy mà chưa có lời hỏi thăm thầy. Từ ngày ra thăm Bắc Thái đến nay không biết
sức khỏe thầy ra sao, công việc thế nào. Chắc thầy vẫn khỏe, công tác tốt chứ?
Cô và các em thế nào thầy. Các con thầy chắc học tốt cả. Ý định đưa Quỳnh Nghĩa
đi thi vào đại học sư phạm Việt Bắc liệu thầy có thực hiện được không? Ôi còn
ba năm nữa thưa thầy...Em mong và tin chắc thầy vẫn khỏe, vẫn vui, vui như
những ngày ở ngoài này dạy dỗ chúng em, ngày ngày vẫn bên trang giáo án, miệt
mài bài giảng, chăm chút dạy bảo đến nơi đến chốn cho từng lứa học trò đàn em
của chúng em...để hàng năm gặt hái được những thành quả lớn khi vụ mùa bội thu.
Em còn nhớ: dạy văn học dân gian thầy khắc sâu: “ở hiền gặp lành”, “ăn quả nhớ
người trồng cây”-những người như thầy em tin chắc đạt được điều đó. Bao nhiêu
năm xa cách, không được gặp thầy, em tưởng tượng thầy đã già lắm, tóc đã bạc
nhiều, thầy sẽ già, gầy, yếu đi. Nào ngờ, lúc gặp lại xuýt xoát gần 30 năm thấy
thầy không già đi là mấy, tuy mái tóc đã có pha sương, điểm bạc. thầy vẫn vui
vẻ, cởi mở như xưa. Thay cho bài hát, thầy đọc thơ cho chúng em nghe...Em vẫn
tâm đắc và khắc sâu bài thơ hôm đó: “Tôi như con đò đưa khách qua sông...” Có
được điều đó như thầy nói: “ Thấy sự lớn lên và trưởng thành về mọi mặt của chúng
em...”
Còn phần em, cuộc sống của một giáo viên
dạy văn cấp 3 nơi thầy đã ở và dạy dỗ chúng em, (như thầy đã biết) vẫn còn
thiếu thốn về mọi mặt, nhất là hoàn cảnh của em, như thầy đã rõ: (mồ côi mẹ từ
lúc mới bước vào cấp 2 cùng hai em còn bé tí – Bố đi lấy vợ hai, cả hai không
có công ăn việc làm, mở hiệu sửa chữa xe đạp, gia đình gặp quá nhiều khó khăn
khi cả ba chị em cùng đi học, dì ghẻ lại sinh em bé...Năm đầu vào cấp 3 đã bao
lần em định bỏ học, thầy đến nhà hỏi thăm, chia sẻ động viên...Em phải làm thêm
việc để phụ giúp gia đình những tháng ngày khó khăn ấy...Thầy đã gần gũi thuyết
phục bố mẹ tạo điều kiện cho em tiếp tục đi học. Em vẫn nhớ và hiểu điều đó và
rất biết ơn thầy (Và đó cũng chính là động lực để em tiếp tục học tập và học
tập tốt). Tuy nhiên cuộc sống bây giờ có phần khác trước nhưng cũng không phải
đã hết khó khăn. Tất nhiên rồi sẽ khắc phục được thôi thầy ạ. Em không còn giữ
được cái vẻ tươi trẻ, hồn nhiên, kiều diễm của cô nữ sinh trung học ở tuổi 15,
17 nữa.
Nhưng thầy ạ, những điều thầy dạy chúng
em, nhắc nhở chúng em trong cuộc sống, trong công việc, trong cách cư xử vẫn là
những hành trang đầy ắp thi vị ngọt ngào và tràn đầy sức sống tiếp sức cho em
đi trên con đường của thầy đã đi và đang đi...
Thầy ơi, cái điều mà em tâm niệm và thầy
ước trước đây, được thầy chỉ bảo, dìu dắt đã thành sự thật. Thật sung sướng
biết bao không gì bằng: Hết thời sinh viên đại học sư phạm về làm đồng nghiệp
cùng dạy môn văn với thầy, ở trường thầy. Chỉ có điều thầy không còn ở đây nữa.
Thật tiếc biết bao! Giá như...
Xin thầy cùng toàn gia nhận cho em lời
chúc sức khỏe, lòng kính yêu và biết ơn chân thành sâu nặng của em đối với thầy
và gia đình; với thầy em xin được chúc thầy vẫn trẻ mãi không già – lần gặp tới
thầy vẫn không thay đổi. Tạm biệt thầy, tạm biệt những ngày vui. Em và các bạn
đợi chờ cuốn “TTHM” đấy .
Kính
thư
Hà
Hạnh Liên
Cựu
học sinh lớp 8C- khóa 1969-1972
Tôn Ngộ
Không đến Quỳ Hợp
(Tiểu phẩm – ký – Phạm Văn Du
)
Nghe tin Quỳ Hợp – vùng đất đỏ Phủ Quỳ -
khu kinh tế mới – nơi miền tây xứ Nghệ - kinh tế phát triển, đời sống muôn dân
khá lắm. Nhà cao tầng mọc lên san sát, xe hơi, hon đa chạy kín mặt đường, ty vi,
tủ lạnh, quạt máy gần như nhà nào cũng có, nhờ nguồn tài nguyên – chủ yếu là
đá, quặng, cây công nghiệp phong phú, kinh tế phát triển và bỏ chế độ bao cấp
... Tôn Ngộ Không nhân chuyến đi Việt Nam có ghé qua để biết hư thực ra sao ...
Ngồi trên mây, theo đường 48, từ Yên Lý đi lên, qua Sông Hiếu tới Sông Dinh khi
trời đã về chiều, trông xuống hạ giới: Những cột khói lam chiều, những con
đường mòn đã được rải nhựa, đổ bê tông người qua lại tấp nập. Nhiều ngôi nhà
cao tầng mọc lên khang trang, đẹp mắt. Hàng quán bày bán hai bên đường sầm uất
... Và kia, dòng sông Dinh trong xanh, hai bên bờ là những bãi ngô, dải mía
xanh tươi; một đôi nơi nổi lên cồn cát sỏi; xa xa thấp thoáng những cánh rừng
cao su, cam, chanh, quýt, dứa ... Một chiếc cầu bê tông, cốt sắt dài hơn 240 m
rộng lớn bắc qua sông nối liền hai khu vực Tây Bắc – Đông Nam của Huyện Quỳ
Hợp, ngày đêm tấp nập người xe qua lại ... Ngộ Không niệm chú gọi Thổ Thần lên
hỏi :
- Cầu làm từ lúc nào? đã sử dụng lâu chưa
? Thổ Thần hai tay chắp lại khúm núm thưa :
- Bẩm lão Tôn, chiếc cầu được khởi công hơn
chục năm nay, khánh thành vào những ngày cả huyện tưng bừng, náo nhiệt chuẩn bị
cho ngày thành lập huyện 19/ 4 .
Qua cầu Dinh, Thổ Thần dẫn Ngộ Không tới
ngã ba săng lẻ. Họ dừng chân trước một cửa hàng ăn có biển quảng cáo “Thảo lĩnh
” Để tiện đi lại dễ dàng, biết được cụ thể thực hư ra sao, Ngộ Không quờ tay ra
đằng sau gáy nhổ một sợi tóc, thổi phù một cái, biến mình hoá thành một thiếu
nữ xinh đẹp. Chiếc áo da cọp biến thành áo cánh trắng và cái quần thụng
màu nghệ biến thành chiếc quần hồng phơn
phớt trông rất “mốt ”. Còn thổ thần thì hoá thành một lão bà, tay xách làn mây,
chân đi dép thái trông khá đẹp lão. Hiềm
một nỗi cái bụng phệ không biến được, phình ra như người có chửa, làm cho ai đi
qua trông thấy lấy làm lạ cũng phải dòm theo, che miệng mà cười ...
Thổ Thần vào quán thám thính một hồi rồi
quay ra :
Dạ bẩm lão Tôn! nhiều thứ quá. Món ăn thì
có cơm, phở, bún, miến, cháo đủ các loại thịt đặc sản miền quê phố núi . Còn
uống thì bia hơi, bia chai, bia hộp đủ các hãng Hà nội, Huế, Sài gòn ... Rồi cà phê, sữa tươi, nước mía,
nước hoa quả ... nhiều quá ...
Ngộ Không ngạc nhiên thực sự. Năm mươi
năm trước nơi đây chỉ là rừng núi hoang vu, cây cối um tùm, rậm rạp, thú rừng
nhiều, đường hẹp hun hút hai bên đường toàn lau lách, đi rừng còn sợ lạc, sợ hổ
báo ăn thịt; có ai nghĩ đến ăn một cây kem, uống ly cà phê, chứ chưa nói đến
uống bia đủ loại, hảo hạng ... Nay có quạt điện có điều hoà mát mẻ, đêm điện
sáng lung linh ... Và ai ngờ rằng nơi
chốn rừng xanh heo hút này, nay dân cư đông đúc, phố xá khang trang, nhà cao
tầng mọc lên như nấm, san sát các cửa
hàng ăn, giải khát, đồ dân dụng điện tử ... Phục vụ suốt ngày đêm ... Phải
chăng đây là biểu hiện sự quan tâm phục
vụ đời sống của chính quyền địa phương vừa là bộ mặt phong phú về sản phẩm của
một vùng kinh tế đã và đang được khai thác ...
So với hàng chục năm trước, vùng đất này
đã rộng ra và đổi mới khá nhiều. Bên bờ sông Dinh, cạnh đường quốc lộ 48, nơi
xưa kia chỉ có lau lách, cây hoang dại rậm rạp nay đã mọc lên một nhà máy đường
.
Kể từ đó là các nông trường quốc doanh
3/2, Xuân Thành nay là hai công ty kinh tế phát triển lớn công ty nông lâm
nghiệp 3/2, Công ty nông lâm nghiệp Xuân Thành. Một bệnh viện khu vực II Quỳ
Hợp, trạm truyền hình, đài phát thanh, trường THPT Quỳ Hợp I ... Chưa nói đến
các trường TH, THCS, Mầm non có hàng ngàn, hàng vạn học sinh ... Xa xa là các
nhà máy chế biến chè, cao su. sửa chữa cơ khí máy móc, các xí nghiệp đá hoa
cương, các công ty công trình xây dựng ...
Đi trên vùng đất phía nam Quỳ Hợp hôm
nay, Tôn Ngộ Không đã gặp những cánh rừng cao su căng nhựa đầy sức sống, những
đồi chè bát ngát sài búp xanh rờn, những vườn cau trĩu quả, những giải mía bát
ngát và những đàn trâu bò nhởn nhơ gặm cỏ. Rồi những chiếc ô tô, máy cày, máy
kéo, xe công nông, xe du long tung hoành
trên các nẻo đường, phục vụ cho nền kinh tế ... Kho của cải này hàng năm
cung cấp cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước một khối lượng sản phẩm lớn trị
giá hàng trăm tỷ đồng ...
Buổi chiều quốc lộ 48 vẫn dập dìu những
chuyến xe chở mía nối đuôi nhau ra vào nhà máy đường chờ cân đo cho vào máy ép.
Nhiều chuyến xe chở đá khối cao ngất, cồng kềnh, dễ sợ về xuôi, con đường trở
nên tấp nập, chật chội, nhiều lúc tắc đường ... Qua chợ 3/2 đến chợ Dinh lên
chợ ngã ba săng lẻ, buổi chợ chiều vẫn còn đông người mua, người bán chủ, khách
hỏi đáp vui vẻ, rôm rả, quang cảnh rộn rã tấp nập. Các quầy hàng tạp hoá treo
đầy quần áo, vải vóc, bày bán các thứ mũ nón, dày dép đồ chơi trẻ con ... Quá
nhiều tưởng chừng ế ẩm không gian tràn đầy những màu sặc sỡ ... Rời ngã ba mới tới
chợ Bãi những nhà hàng ăn uống, những quán cơm phở, tiệm bánh mì sốt vang, đặc
biệt món vịt quay đặc sản nổi mùi thơm lừng.
Chiều tà đi qua Châu lộc, Thọ Hợp, phía
tây bên kia sông là Châu Đình, nơi đây
không còn hoang sơ, vắng vẻ như xưa nữa. Rừng cây núi đá thành nương rẫy vườn
cây công nghiệp, bản làng đang vấn vương
những sợi khói lam chiều ...
Thổ Thần dẫn Ngộ Không lên chợ bến xe,
qua các quầy hàng nhà ăn, tiệm giải khát ... Đâu đâu cũng thấy hàng quán ê chề,
người mua, kẻ bán tấp nập. Các cửa hàng kinh doanh tập thể, tư nhân nào xe máy,
xe đạp, hàng dân dụng, ty vi, tủ lạnh, máy điều hoà, dụng cụ điện tử ... Mọc
lên kề nhau san sát .
Rồi hoàng hôn buổi chiều tà đổ xuống thị
trấn Quỳ Hợp. Hoàng hôn ánh hồng phủ khắp phố phường ... Ngồi trên mây Ngộ Không cùng Thổ Thần vẫn bay ... Qua công
viên thanh niên tới huyện lỵ “Thủ phủ” của Quỳ Hợp, Ngộ Không lại càng bất ngờ
hơn với vẻ đẹp tươi tắn, khang trang, đàng hoàng đẹp đẽ của các ngôi nhà cao
tầng của cơ quan huyện bên Hồ Thung Mây
trong xanh ... Đứng trên tầng ba - Ngôi nhà cao tầng mới xây – khu trung tâm cơ
quan huyện, ngước mắt nhìn lên bầu trời cao xanh lồng lộng, dưới là khuôn viên,
những bồn hoa cây cảnh, khu vui chơi giải trí ... Trông xa, trong tầm mắt là
quang cảnh thị trấn với những hàng cây xanh bên cạnh những cột điện cao áp thẳng tắp theo các tuyến
đường được gắn bằng câu khẩu hiệu. Những ngã ba, ngã tư, những con đường phân
giải ngăn cách đi vào các khối xóm ... Trời dần tối, hoàng hôn tím ngắt bắt đầu
ập xuống ... Từ các con đường ngôi nhà, các hàng quán đồng loạt bật điện sáng
trưng, cả không gian như một bức tranh đầy màu sắc ... Thị trấn êm đềm trong
cái rộn ràng náo nức lòng người ...
Qua cầu Nậm Tôn, cây đa Làng Còn tới chợ
Đồng Nại rải rác sao trời xuất hiện. Thấp thoáng đây đó hai bên lề đường, trong
các nhà hàng ăn uống những bếp lửa hồng đun bằng củi than, hoặc những bếp ga xào
xào, nấu nấu những món ăn đặc sản hương vị miền quê ... Rồi Châu Cường,
Châu Thái, Châu Tiến, Châu Lý, châu Sơn vẫn sao trời ánh điện khắp bản làng,
đường sá, vẫn bếp lửa bập bùng trên các ngôi nhà sàn chênh vênh trên sườn
núi. Núi rừng đã đổi thay ...
Đêm khuya trên đất Châu Hồng giàu tài
nguyên khoáng sản đã và đang được khai thác. Những công trường, những nhà máy
mọc lên san sát ... Nghe tiếng gió thì thào trên các lùm cây, đồi núi, gió vỗ
về giấc ngủ núi rừng ngàn năm không biết miệt mỏi ... Gần 200 cây số từ ngã ba
Yên Lý khi rẽ từ đường số 1, Thổ Thần đi mây về gió không quen đã thấm mệt bàn
Ngộ Không ngồi nghỉ chốc lát. Đi đường xa, quá mệt mỏi hai người tìm chỗ ngả
lưng ... Giấc ngủ say sưa nhanh chóng tìm đến ... Trong cơn mơ, thức giấc ...
Chợt mở mắt ra đã thấy bình minh với một vầng dương ánh hồng trên núi, trên các
nhà cao tầng khu công nghiệp khai thác quặng, đá quý ... Châu Hồng cuối xuân,
đầu hè trời cao thanh lồng lộng sáng một màu trong vắt ...
Tôn Ngộ Không lại bất ngờ hơn. Nơi đây
không còn hoang sơ, hiểm trở như xưa nữa. Rừng cây núi đá đã thành nương rẫy,
nhà cửa, bản làng, khu công nghiệp ... Vẫn núi đồi này, vẫn con đường này , vẫn
không gian này cách đây năm mươi năm ...
Hoang sơ, vắng vẻ, hiểm trở. Nơi được xem “Chốn khỉ ho cò gáy” rừng thiêng nước
độc ... Mà giờ đây đất trời thay đổi diệu kì đến thế. Tôn Ngộ Không nhận thấy
trong gió, trong nắng xuân dàn trải, trong muôn ngàn cây cỏ, trong dòng chảy
thời gian ... Trên những ngôi nhà cao tầng khu công nghiệp ... Những dòng đời
chảy mãi đến mai sau ...
( Còn nữa )
Kỳ sau Tôn Ngộ Không đến Quỳ
Hợp cách đây năm mươi năm
C. PHẦN THỨ BA: NHỮNG NGƯỜI SỐNG BÊN TÔI
CHƯƠNG V: NHỮNG NGƯỜI SỐNG BÊN TÔI
1/ Ký ức về thân sinh tôi
2/Những trang viết về Anh, Chị
3/ Nhà tôi
NHÀ TÔI
Ngày ấy, cách đây hơn ba mươi năm, Nhà tôi là một cô gái trẻ. Nói đúng hơn là một
thiếu nữ quá trẻ - 18 tuổi . Cô gái ấy
là con một gia đình láng giềng khác xóm. Tuy hai xóm khác nhau nhưng chỉ cách
một con đường cái – đường liên thôn Nam Tiến – Hoa Bắc. Hằng ngày đi đâu cũng
qua ngõ nhà nhau. Ông bố mất, bà mẹ tần tảo nuôi sáu người con. “Nhà” Tôi là
con thứ năm nên đặt tên theo thứ tự là Năm – Bích Năm .
Tôi biết em từ nhỏ, khi còn để tóc đáp,
tóc mai, chơi đồ hàng, bày trò làm “mẹ con”... Nhưng bẵng đi một thời gian khá
dài, kể từ khi chúng tôi (bạn bè cùng trang lứa trong đó có anh trai thứ hai
của em) đi học cấp ba trường huyện – Thái Hoà, tiếp đó đi học đại học chuyên
nghiệp trong và ngoài nước (lưu học sinh) ra trường, đi xa ... xuýt xoát 10 năm
trời đằng đẵng. Chúng tôi gặp nhau sau gần chục năm xa cách. Đó là một ngày
trong kì nghỉ hè năm 1971, tôi đạp xe đi dạo quanh các xóm làng, khu đồi, cánh
đồng, mà trước đây tôi thường đi chăn trâu, kéo xe phân, cày bừa, (Lúc này Làng
Sen đã chuyển dời lên Eo Đế). Gặp em khi em đang dùng gàu sòng tát nước cho vào
ruộng lúa. Gặp tôi, em dừng tay lấy khăn đội đầu, che mặt lau mồ hôi chào hỏi.
Tất nhiên mới chỉ là những lời chào hỏi xã giao giữa người đi xa với người ở
lại quê nhà. Nhưng tôi đã cảm mến em ngay từ cái nhìn đầu tiên và chác em cũng
vậy ...
Thế rồi lần về quê đón tết năm đó, trong
lần gặp đầu tiên, tại nhà tôi (em và mấy bạn cùng lứa tuổi đi chúc tết) thấy em
ngày một xinh, một đoá hoa đồng nội có thể nói một hoa khôi nhất nhì trong làng
xã lúc đó. Và tôi có cảm tình ngay với em vì cái nhìn trìu mến, dịu dàng, thông
minh và nụ cười có duyên (dù mỗi lần cười em thường hay che miệng) . Nhất là có
một nét gì đằm thắm chín chắn, đôn hậu, đáng yêu toát ra từ đôi mắt đen láy như
mắt bồ câu dịu hiền xinh xắn, mái tóc đen dày và dài, cách nói chuyện từ tốn lễ
độ đầy hấp dẫn và dáng đi đứng duyên dáng của một cô gái thôn quê, khác với
điệu bộ nhí nhảnh làm duyên của một số cô gái thị thành mà tôi được biết.
Và ngay ngày hôm sau, nhận lời mời của em
và tình cảm của người đi xa về quê ăn tết tôi cùng mấy đứa bạn qua nhà em chúc
tết, thực ra là ăn tết mùng 2 – đưa ông bà, gia tiên (tất nhiên có các bạn của
em cùng đến) tôi đã gần như phải lòng em ... như các cụ thường nói. Nói đúng ra
là đã thích em, yêu em. Bởi không yêu
sao được khi em không chỉ là một cô gái đẹp tuổi trăng tròn mà còn toát lên sự dịu dàng, e ấp,
nhân hậu, đầy nữ tính, một vẻ đẹp hồn nhiên dịu hiền, thuần khiết. Bởi thế cả
gia đình tôi, kể cả người chị họ (con ông bác) công tác ở ty công an Bắc Thái
về chơi chúc tết thấy và đều khen em, quý mến em về cách sống, cách cư xử và
đức hạnh và hơn thế em còn có một tâm hồn đẹp và sâu sắc ... mặc dù lúc này tôi
đã là một giáo viên cấp ba đã 27 tuổi đầu già dặn nhiều so với em ... Thú thật
tôi đã từng yêu và đã được đáp lại tình yêu, điều đó em cũng đã được biết,
nhưng trái tim tôi chưa từng rung động như lúc này, khi đứng trước em, nhất lại
ngồi cùng mâm với em được em gắp thức ăn rót chúc rượu và nói những câu ý tứ,
tế nhị... Rồi một sự tình cờ, cơ hội lại đến với tôi cái may mắn lại đến với
tôi tối hôm đó đi xem “Hội diễn văn nghệ dưới làng ( Làng Mài: 2 xóm Hồng Yên,
Xuân liên) lại gặp em, xem ít tâm sự chuyện trò nhiều: khi về đi cùng đường với
em lại được người bạn gái (không phải bạn gái quan niệm như bây giờ) cho mượn
đèn pin đưa em về nhà (nhà em cách nhà tôi một quả đồi và một cánh đồng). Trên
đường đi và đến lúc sắp chia tay qua những lời tình tứ, bóng gió, tôi biết em
đã có cảm tình thực sự với tôi ... Thế rồi trước khi chia tay, ngay trước cổng
ngõ nhà em, tôi nắm tay em nói mấy lời tạm biệt. (Ngày mai tôi lên dường ra
trường công tác). Lúc đó không hiểu sao, tôi không kiềm được lòng mình bất chợt
tôi khoác tay qua vai thấy em không phản ứng gì , coi bộ ưng ý đồng tình, tôi
ôm em vào lòng và hai tay em cũng ôm chéo qua vai tôi, rồi tiếp đó là một nụ
hôn vụng về đằm thắm và tình yêu thật sự đã đến với tôi từ đó (Tối mồng 2 tết
năm 1972) .
Và kể từ đó trở đi chúng tôi đã có rất nhiều
kỉ niệm. Cảm giác rung động của một chàng trai từng trải với một cô gái thôn
quê tuổi 18 đôi mươi thật khó nói. Xa nhớ, nhớ khủng khiếp. Đúng như nhà thơ Tố
Hữu nói “Nhớ gì như nhớ người yêu ”. Chỉ ước muốn luôn ở bên nhau ... Và như thường
lệ cứ mỗi tuần vào tối thứ bảy là tôi viết thư về cho em và đương nhiên cũng
chừng ấy thời gian em cũng biên thư cho tôi, nhưng phải ba tuần sau, có khi cả
tháng chúng tôi mới nhận được thư nhau (Vì chiến tranh). Mỗi lần nhận đọc thư
em mà nghe thổn thức con tim ... Cầm bút viết thư cho em, tôi thấy như em đang
ngồi bên ... như đang tâm sự với em: Em Năm yêu thương ... Em như ánh mặt trời.
Em như làn gió nhẹ, như buổi rạng đông. Em là hạnh phúc, là ánh bình minh ...
Có một bông hoa đồng nội, một đóa hoa
rừng tươi nở trong tim em và toả hương sắc ra toàn cơ thể em. Anh đã nhìn thấy
cuộc sống. Dù ai nói gì với em đi chăng nữa thì em cũng hãy tin rằng: cuộc sống
là kì diệu là tươi đẹp. Tình yêu là ở chúng ta. Hạnh phúc là do chúng ta tạo
dựng .
Tuy rằng thư đi thư lại cũng chủ yếu là
lời hỏi thăm sức khoẻ, công tác, kể chuyện thường ngày còn những lời tình tứ
yêu đương, những tâm tư tình cảm chưa phải là nhiều. phải chăng còn để dành cho
nhau khi gặp lại ...
Hè về, gặp nhau, em ngày một xinh, từ đôi
mắt, mái tóc, vóc dáng, nước da ... những ngày nghỉ phép hè, ngoài những buổi
đi chơi cùng bạn bè, còn lại tối nào cơm nước xong dạo quanh qua mấy nhà anh
em hàng xóm tôi lại sang nhà em .
Một hậu thuẫn rất có điều kiện vun đắp
cho tình yêu của chúng tôi, tạo điều kiện cho chúng tôi được thường xuyên gặp
gỡ nhau, gần nhau nhiều . Đó là thời gian này các anh chị của em đều đi công
tác xa. Anh trai cả Hiệu trưởng một trường cấp hai trên Quỳ Hợp, Anh trai thứ
hai học ở bên Liên Xô về làm giảng viên trường Đại Học bách khoa Hà nội, độc nhất
một chị gái đi dân công hỏa tuyến và anh trai thứ tư cận kề em đang đi trung cấp chuyên nghiệp. Ở nhà chỉ còn ba mẹ
con. Em trai út học xong cấp hai đang ôn thi vào cấp ba. Bà mẹ là người mẹ chuẩn
mực thương con. Hiểu con, tôn trọng con và nhất là rất tâm lý. Nhất là đối với
đứa con gái thứ hai bé bỏng của mẹ .
Những đêm đầu qua chơi, mẹ vẫn rất bình
thường đối xử bình đẳng như những đứa bạn nam khác của con đến chơi nhưng những
lần sau đó ... qua lần này lượt khác, đêm này đêm kia ... Có lẽ mẹ cũng thấy
một điều gì trong việc “năng đi lại” đến nhà thường xuyên của tôi. Linh cảm của
người mẹ biết được hai đứa đã yêu nhau. Nhưng mẹ không kề ngăn cản tình cảm của
chúng tôi; trái lại mẹ còn tạo điều kiện, có ý vun đắp cho nữa là khác. Bởi tôi
đã đoán đúng tâm lý bà mẹ ... Do tôi cũng đã được học khoa tâm lý .
Những ngày đầu tuy chúng tôi đã có tình
cảm với nhau, tình yêu chớm nở, nhưng khi đến nhà chơi, tôi cũng không dại gì
mà sà ngay vào con gái mẹ như một vài chàng trai cùng trang lứa với em đến
chơi, tìm hiểu em. Với tôi sau câu chào xã giao với gia đình và được đáp lại
tôi vào nơi mẹ ngồi nói chuyện với mẹ, dù chỉ là những câu hỏi thường ngày có
tính chất xã giao được lặp đi lặp lại lời hỏi thăm như mẹ có khoẻ không, mùa
màng năm nay ra sao? Các anh chị có gửi thư về hay không? Công việc mọi người
thế nào? vv ... và vv ... Thế mà mẹ cũng rất vui, rất mừng và phấn khởi ... Bởi
mẹ rất nhớ các con đi xa, nhất lại trong thời chiến, giờ nhắc đến con mẹ, hỏi
thăm con mẹ. Và dần già mẹ đã có cảm
tình thật sự với tôi ... Nhưng thật ra cũng chỉ vài ba lần đầu, những lần sau
đó, mỗi khi đến vừa vào nhà chào mẹ và các em mẹ đã bảo con gái lấy nước mời
tôi và cũng vài ba câu xã giao mẹ khoác áo đi chơi bảo “Hai đứa ở nhà chơi tao
đi đây một tý ” nhưng nào có đi một tý
mà chơi bên hàng xóm lâu mới về. Tất nhiên cũng không quá 23 h
đêm (mùa hè). Dĩ nhiên tôi cũng biết điều và giữ ý nên thường 22h là
chào em ra về, nên chưa lần nào bị nhắc khéo qua con gái “khuya rôi mai còn đi
làm ... ” như bà mẹ đã không cần ý từ khi một chàng trai “ngồi lỳ” tán tỉnh con
gái mẹ mà mẹ không ưng (không đồng ý ) Đồng thời bên cạnh đó còn có cậu em trai
tuổi còn nhỏ nhưng cũng đã biết tâm lý, luôn tạo điều kiện cho anh chị ngồi
chơi chuyện trò tâm sự. Biết anh đến đã soạn sách vở qua nhà bạn học (Em đang
ôn thi vào cấp 3). Trước khi đi cũng không quên một câu chào đùa vui của tuổi
trẻ “ Anh chị ở nhà chơi , em qua nhà bạn học và “Em phải đi làm bài tập tâm lý
đã ”
Thực tình buổi đầu tiên tìm hiểu không
khải không có khó khăn, gần như các anh chị của em đều phản đối. cho rằng “Cặp đôi
thiếu hoàn hảo, mối tình không cân xứng. Tôi đã 27 tuổi đầu, trình độ đại học,
thầy giáo cấp 3 đang công tác xa và đã có bạn gái đưa về quê chơi, dù cho đó
chỉ mới là bạn học, “ Tình yêu sinh viên” trong quá trình tìm hiểu không thành.
Trong khi em mình mới 18 tuổi, vừa học hết cấp 2, gái nhà quê còn quá trẻ, chưa
va chạm cuộc đời, lại có một số trai làng cùng trang lứa hoặc hơn em vài ba
tuổi để ý, tìm hiểu ... Mối tình sau đó rồi sẽ ra sao khi “Đôi lứa không xứng
đôi” Bởi bao tấm gương của mối tình tương tự gần như thế bị đổ vỡ... Thực ra vì
thương em mà các anh ngăn cản, xét về mặt nào đó về tâm lý tình cảm và hiểu cho
các anh. Song như mọi người đều biết, dù các anh không chấp nhận, cho đến ngày
gần cưới vẫn tỏ thái độ kiên quyết, không ủng hộ, luôn ngăn cản. Nhưng được mẹ
và chị gái ưng thuận ngay từ đầu và mẹ quả quyết, dứt khoát “Bay không ưng
không ở nhà tổ chức đám cưới cho em thì tao đứng ra lo tất còn có bà con, anh
em và đoàn thể. Hơn nữa về phía gia đình tôi ai cũng tán đồng, ưng thuận. Nhất
lại có mấy chị con ông bác công tác ở ty công an Bắc Thái về thăm (mục đích là
bàn chuyện vợ con cho cậu – nói về tôi ) chỉ có khen, không chê, ưng ý hoàn
toàn. Bên cạnh đó có rất nhiều bạn bè của em ủng hộ cố tình vun đắp, chi đoàn
thanh niên nhất trí hoàn toàn chịu trách nhiệm tổ chức hôn lễ. Cuối cùng “trời
không nghe đất, đất phải nghe trời ”, mọi người đều phải chấp nhận và đám cưới
được tổ chức sau hơn một năm kể từ ngày chúng tôi yêu nhau (Mồng 2 tết – 1972 –
12 tháng 7 năm 1973) Dĩ nhiên trước đó, ngày mồng 8 tết (sau ngày hạ nêu) đã
“dạm hỏi” có trầu chạm ngõ lễ vấn danh đàng hoàng minh bạch. Hai gia đình thực
sự đi lại với nhau. Sau này mới biết các anh không đồng ý, ngày cưới lấy lý do
công tác không ở nhà được, phải đi, làm cho bà mẹ phải nổi nóng “Bay đi thì đi
hết cả đi” nhưng thực ra các anh đi về quê ( Diễn châu) báo tin, mời và cùng các chú (em ruột cha) lên đám
cưới. Buổi hôn lễ anh Nhưng anh trai thứ hai – người phản đối mạnh nhất đại
diện gia đình, họ nhà gái phát biểu giao dâu khi họ nhà trai nhận dâu (tục lễ
quê tôi lúc bấy giờ). Mới biết ngoài mặt
thì nói thế thôi, nhưng thực lòng vẫn thuận theo ý mẹ và tuân thủ tình cảm,
tình yêu của em gái. Còn tôi cũng tự nhận thấy mình không phải là chàng trai
đẹp người, đẹp nết, nhã nhặn,bảnh bao hào hoa như có người nhận xét. Nhưng về
trình độ và độ tuổi và trong cuộc sống bươn chải ngoài đời thì chắc là tôi hơn
hẳn, nói chẳng sai nhất là trình độ Đại học lúc đó là một sự kiện lớn, là ước
ao hàng bao thế hệ học trò. Một trình độ chuyên môn, một kiến thức văn hoá mà
nhiều người mơ ước. Bởi đại học thời đó, cả xã chỉ đếm đầu ngón tay, quá hiếm. Còn
yêu em hay không, thực lòng không, thực tế thời gian sẽ chứng minh.
Rồi dần dần gần như tôn thờ tôi, tôi là
thần tượng là lý tưởng trong em, nhất lại cả xã lúc ấy chỉ có 3 giáo viên cấp 3
và 1 giảng viên đại học, trong đó có tôi. Và đây cũng là cơ sở, chỗ dựa để em
bước vào nghề sư phạm. Và từ đó biết bao tình cảm chân thành, sự tin tưởng đáng
phâm phục đối với em ...
Cưới xong,dự định của tôi là nếu tôi
không đi B thì em đi học trung cấp ngân hàng trung ương. Trường sơ tán tại
Thịnh Đán gần trường cấp 3 Đồng hỷ tôi công tác – Rất thuận tiện, tôi đã liên
hệ và nhà trường đã đồng ý tiếp nhận. Bởi thời đó vừa bao cấp vừa chiến tranh
xin đi học ngành, nhất lại trung cấp không có gì là khó. Hơn nữa hiệu trưởng
trường là thầy Lương Thanh Tao, anh trai thầy Lương Duy Thứ mà thầy Thứ là chủ
nhiệm lớp năm thứ 3 của tôi – Cán bộ giảng dạy trường Đại học sư phạm Vinh.
Hiện thầy đang công tác tại trường ĐHSP Việt Bắc – Bắc Thái . Thầy rất mến tôi,
thầy trò thường đi lại và gặp nhau luôn tại nhà thầy Tao. Và khi khoa ngữ văn
của trường tổ chức hội nghị chuyên đề văn học hoặc đề tài gì mới liên quan đến
tác phẩm dùng trong nhà trường đều mời cốt cán chuyên môn của ty giáo dục và
các trường cấp 3 gần đó tham dự. Thầy Lương Thanh Tao lại có con gái Lương Bích
Thuỷ học lớp tôi chủ nhiệm (Thầy Thứ trực tiếp đưa đến trường và tôi xếp vào
lớp – tôi làm công tác tuyển sinh phụ trách phân chia sắp xếp các lớp). Điểm
nữa, thuộc lĩnh vực tình cảm, gia đình
thầy lại ở Quảng Bình, nhận đồng hương miền Trung (Hồi đó chiến tranh đi xa, gặp nhau không cứ
là đồng hương xã, huyện, tỉnh mà vùng miền cũng rất gần gũi, thân quen, gắn bó)
.
Nhưng kế hoạch dự định không thực hiện
được. Bởi Việt Bắc quá xa xôi lại thời chiến. Hai bên gia đình, nhất là hai bà
mẹ ý muốn, nếu tôi không đi B thì xin chuyển về quê công tác để gần gia đình.
Mẹ ngoài không muốn xa con gái út – cưng, mẹ nội không muốn xa con dâu út –
mới. Còn em cũng không muốn đi học ngành
này. Lúc đó em chỉ thích đi học y – Đang trong đội xung kích của xã đào lấp hố bom và nhiệm vụ chính là tải
cứu thương. Hoặc đi sư phạm cùng ngành với chồng để tiện sau này công tác và
nuôi dạy con cái. Sau thời gian bàn bạc đi đến nhất trí nộp đơn đi sư phạm.
Hiệm nỗi sư phạm đã tuyển sinh xong gần
như hết chỉ tiêu ( Kể cả 2 trường SPC1 SPC2 ) đã gửi giấy báo, một số giáo sinh
đã nhập học. Rất may là tôi có giấy chứng nhận và chứng chỉ học xong lớp
BDCBQLTƯ ( Bồi dưỡng cán bộ quản lý trung ương) trường bồi dưỡng trung ương và
giấy giới thiệu nghỉ phép chuẩn bị đi B – Anh trai tôi đang là cán bộ UBND
Huyện, bí thư chi bộ cơ quan và đặc biệt hơn nữa người phụ trách tuyển sinh là
cô Nguyễn Thị Hoà, bạn học với tôi hồi cấp I. Có điều sư phạm cấp II (7+3
) chỉ còn một chỉ tiêu ưu tiên đứa cháu
con chị gái tôi – Đặng Thị Lan – Bố chiến đấu ở chiến trường B- C. Bên sư phạm
cấp I (7+2) cũng không còn chỉ tiêu, sau khi tổ chức trường xin ý kiến phòng
BDPT Ty giáo dục, sự thống nhất của ban tuyển sinh Huyện, em là trường hợp
ngoại lệ, được chuyển qua sư phạm cấp I. Ở đó có số thầy là giáo viên tôi học
cấp 3 lại cùng học với tôi cùng lớp ở đại học như thầy Hoàng Ngọc Ân – chánh
văn phòng, thầy Phan Xuân Chấn CBGD.
Bước đầu vào trường như vậy là quá thuận lợi. Nhất là thuận tiện cho tôi sau
này mỗi lần về thăm em khi kì nghỉ hè đến. Việc ăn ở, nghỉ ngơi, vợ chồng gặp
nhau, gần gũi do các thầy lo tất. Riêng lao động đầu năm làm lán trại, chỉ tiêu
bao nhiêu ngày công khoán đóng góp bao nhiêu chiếc tranh (Tranh săng lợp lán,
lớp học), (tính ra em nhập học chậm hơn một tháng) tranh thủ ngày nghỉ, chủ
nhật làm bù cho đủ và có sự hỗ trợ giúp đỡ của bạn bè trong lớp, cùng xã ...
Tất cả, tất cả và đây cũng là động lực thúc đẩy, khuyến khích, cổ vũ em để em
có sự cố gắng vươn lên trong mọi mặt hoạt động công tác học tập để hoàn thành
nhiệm vụ đạt kết quả tốt khoá học và thành tích khả quan như sau này ...
Là chồng tôi hiểu hơn ai hết, em không
chỉ là cô giáo đẹp người, đẹp nết mà là một con người có nghị lực, đầy niềm
tin, khát vọng. Ngay từ những ngày đầu khi đi học chuyên nghiệp vào trường sư
phạm, em đã xác định một chí hướng cho mình và quyết tâm đạt được điều đó: Học
tốt để có kiến thức vững vàng, chắc chắn, sau này đủ để truyền thụ cho học
sinh. Cho nên ngay từ năm thứ nhất đã là một giáo sinh khá toàn diện, được cả
nhiều mặt, nhất là học tập và phấn đấu tu dưỡng rèn luyện bản thân. Tất nhiên
bên cạnh còn có sự giúp đỡ, động viên, cổ vũ của thầy cô giáo và bạn bè cùng
lớp.
Ra trường công tác kết thân chị em với
Hiền Lương học cùng khoá, khác lớp nay về cùng trường lại được phân đi vùng lẻ.
Hiền Lương cũng là cô giáo trẻ có nhan sắc (được mệnh danh là hoa khôi vùng lúc
đó – Cùng với nhà tôi) cũng say mê công việc, tình cảm chan hoà, tính tình cởi
mở, vui vẻ.. .
Hai người con gái này đã từng làm rung
động, say đắm bao chàng trai mà họ không
tin rằng em đã có chồng trước khi đi học ngành và Hiền Lương đã có người yêu
sắp cưới ... Chỉ khi tôi về phép cùng với Thanh Bình – chồng sắp cưới của Hiền
Lương (em trai bạn học tôi hồi cấp 3) lên chơi, thăm hỏi, lúc đó mọi người mới
vỡ lẽ ... Thì ra là vậy – Trách gì hai cô cứ ngoài giờ lên lớp là miệt mài giáo
án, ít đi chơi, kể cả ngày nghỉ và được mời đi xem phim, văn công, giải khát
...
Một điều đáng nói trước khi nghỉ hưu cả
hai chị em đều là cán bộ lãnh đạo lâu năm và chiến sĩ thi đua cấp Huyện, Tỉnh
liên tục .
Năm 1975 TNSP, em nhận quyết định về công
tác trồng người tại trường cấp 1, 2 – 3/2 , thị trấn 3/2 quỳ Hợp, Nghệ Tĩnh.
Những năm đầu Miền Nam vừa giải phóng, đất nước mới thống nhất đang có nhiều
khó khăn nhất lại hàn gắn vết thương, khắc phục những tổn thất do chiến tranh
gây ra để lại, lại trong thời kì bao cấp nên cuộc sống đã khó khăn, càng khó
khăn hơn về mọi mặt ...
Sống giữa vùng nông trường QD 3/2 rộng
lớn, cuộc sống công nhân còn gian nan vất vả. Hơn nữa đại đa số cán bộ công
nhân là bộ đội Miền Nam
tập kết giờ quê hương giải phóng về quê đóng góp xây dựng quê hương hay ở lại
sao đây ? Điều đó cũng ảnh hưởng không ít đến cuộc sống hiện tại, nhất là việc
học hành của con em ... Được cái đội ngũ giáo viên khá đông (Sát nhập hai cấp
I, II) ai cũng vui vẻ phấn khởi, đồng cam cộng khổ cùng làm tốt công việc được
giao. Mọi người thực sự yêu thương, đoàn kết giúp đỡ nhường nhịn cho nhau mọi
thứ : Từ củ sắn, bắp ngô, xô nước đến cái bánh mỳ, bát gạo hẩm, đĩa muối vừng
... ( Thời gian công tác giảng dạy vùng lẻ tại Bửng – Đội 1- NTQD 3/2 – nước
thiếu, khe suối, giếng đều khô hạn, cạn kiệt, phải chở nước vùng ngoài vào).
Cuộc sống bao gian truân. Trong công việc, nhất là công tác chuyên môn giáo
dục, giảng dạy biết bao khó khăn, giáo viên sao tránh khỏi. Nhưng mọi người
cùng quyết tâm khắc phục vượt qua. Bên cạnh ban lãnh đạo trường (BGH, Bộ tứ) có
năng lực trình độ. Trong đó đồng chí hiệu trưởng là cán bộ, cốt cán chuyên môn
của phòng giáo dục – đào tạo đã từng làm hiệu trưởng nhiều năm có uy tín mới
chuyển về trường được thể hiện là người có năng lực, “con chim đầu đàn” đúng
chức năng một lãnh đạo mà biểu hiện rõ nhất trong cách lãnh đạo, khâu đoàn kết
sử dụng con người và điều hành công việc. Điều đó tạo thêm cho đội ngũ giáo viên đoàn kết, nhiệt tình tương trợ
giúp đỡ nhau trong chuyên môn. Những người đi trước, có kinh nghiệm dìu dắt
người mới bước vào nghề, để ai cùng tiến bộ, trưởng thành và trong số đó có em.
Và em từ đây chính thức được gọi là cô giáo – Cô Năm. một điều cần nói thêm là
còn một động lực để em cố gắng phấn đấu tốt hơn là Hiều trưởng chính là anh
trai cả của em nên mọi việc em muốn làm thật tốt để khỏi khó dễ cho anh mình và
cho mọi người đều thấy thực lực của chính mình .
Có thể nói mảnh đất 3/2 Quỳ hợp mà cái
nôi là trường phổ thông cấp I, II 3/2 I
là nơi nuôi dưỡng, rèn luyện tạo
cô trưởng thành. Niềm đam mê nghề nghiệp, say sưa việc chuyên môn, tinh thần tự
học vươn lên, ý thức học hỏi, luôn tự sáng tạo, cùng với tâm huyết : “ Tất cả
vì học sinh thân yêu ” quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vì thế ngay
từ những năm đầu mới bước vào nghề cô đã đạt được giáo viên dạy giỏi cấp huyện,
cấp Tỉnh ...
Với phẩm chất đạo đức tốt, tư cách tác
phong mẫu mực của một nhà giáo, tinh thần kỷ luật cao, nghiêm túc trng công
việc cùng với sự nổ lực của bản thân cô giáo Nguyễn Thị Bích Năm được nhà
trường, cấp uỷ địa phương và cấp trên đánh giá cao, do đó năm 1980 cô vinh dự
được đứng trong hàng ngũ của Đảng và một thời gian làm phó hiệu trưởng trường
TH số 1 Minh Hợp, năm 1991, sau khi học xong khoá quản lý giáo dục (Lớp HT) do
sở GD& ĐT Nghệ an tổ chức, cô được đề bạt làm hiệu trưởng cho đến lúc đủ
điều kiện nghỉ hưu ( năm 2011)
Bao năm đạt tiêu chuẩn giáo viên dạy
giỏi, giáo viên giỏi, CSTĐ ; tự vươn lên trong gian khổ, khó khăn, tiến bộ
trong sự đùm bọc yêu thương của đồng chí, đồng nghiệp của phụ huynh học sinh
của nhân dân; khi là cán bộ quản lý dù ở đâu Minh Hợp hay Nghĩa Xuân; dù cơ sở
vật chất đầy đủ hay thiếu thốn ... Cô vẫn giữ vững được lề lối làm việc, tác
phong sinh hoạt, tính cách mẫu mực, tận tuỵ với công việc với nghề nghiệp,
khiêm tốn học hỏi mọi người, đồng nghiệp, học tập trường bạn (Qua các đợt đi
thanh tra các trường , làm giám khảo thi giáo viên dạy giỏi) tìm mọi cách khắc
phục khó khăn, đổi mới công tác quản lý làm cho trường vững về chuyên môn,
chính trị, đầy đủ về cơ sở vật chất phục vụ tốt cho giảng dạy và học tập ...
Đời lãnh đạo của cô đã từng làm quản lý:
Phó hiệu trưởng trường TH số 1 Minh Hợp, Hiệu trưởng trường TH số 2 Minh hợp
Hiệu trưởng trường TH số 1 Nghĩa Xuân cả 3 trường đều gắn với 2 nông trường QD
3/2, Xuân Thành và Nhà máy đường. Học sinh đủ các thành phần: con em công nhân,
nông dân, tri thức, TTC, buôn bán, làm thuê, làm mướn ... Lại tự nhiều nơi khác đến. Tính ra gần
như học sinh con em từ các tỉnh ngoài Bắc vào trong Nam ra trên dưới 30 tỉnh
thành, có nhiều dân tộc, tôn giáo ... Đội ngũ giáo viên cũng đủ các thành phần,
dân tộc trình độ chênh lệch, khác nhau ( THSP 7 + 1 , 7 +2 , 7+3 , 10+1 , 10+2
, 10+3 , THHC, CĐ , Đại học ) ... Nhưng lãnh đạo nhà trường, đứng đầu là hiệu
trưởng, con chim đầu đàn biết kết hợp được hài hoà, tạo nên khối đoàn kết nhất
trí, giúp đỡ lẫn nhau trong cả sinh hoạt hàng ngày của cuộc sống và chuyên môn;
xây dựng trường, lớp các tổ chuyên môn, các tổ chức đoàn thể như công đoàn,
đoàn thanh niên ngày càng vững mạnh .
Ngày hai buổi đến trường, ngoài trách
nhiệm của một hiệu trưởng quản lý chuyên môn, lên kế hoạch lịch cho từng bộ
phận nhóm, tổ để từ đó các nhóm trưởng, tổ trưởng, đầu mối của các tổ chức đoàn
thể lập kế hoạch cụ thể cho mình thực hiện; cô còn như một người chị cả, người
bạn người đi trước luôn gần gũi giúp đỡ, động viên, khuyễn khích, dìu dắt giáo
viên, nhất là giáo viên trẻ mới vào nghề
và đội ngũ cốt cán làm tốt công tác tư tưởng, khơi dậy lòng đam mê hăng say
nhiệt tình với chuyên mô, với công việc; giúp mọi người taọ niềm tin cho họ để
họ tự khẳng định mình. Đồng thời nhắc nhở, bày nhụ động viên mọi người, mọi tổ
chức tham gia mọi hoạt động công tác, nhất là các phong trao thi đua theo các
chủ đề phục vũ cho giảng dạy, học tập, rèn luyện tư cách đạo đức ... Từ đó làm
cho cán bộ giáo viên và học sinh có ý thức thi đua, tinh thần tập thể, tính tự
giác, trách nhiệm cao tự rèn luyện mình. tất cả còn được thể hiện trong các
cuộc họp hội ý – chuyên môn, họp cơ quan, họp hồi đồng giáo dục, sơ kết, tồng
kết, xét thi đua ... luôn thể hiện tính dân chủ, lắng nghe và tôn trọng ý kiến
giáo viên, họp hành, đánh giá động viên nhiều hơn là áp đặt .
Tất nhiên trước các cuộc họp đã được hội
ý trong ban giám hiệu; có khi họp BLĐ mở rộng xuống các Tổ trưởng, khối trưởng
chuyên môn, các tổ chức đoàn thể để có sự thống nhất cao trong lãnh đạo của cấp
uỷ mà cô là bí thư. Nội dung họp thường bàn nhiều, đi sâu vào công tác chuyên môn , giúp giáo
viên trong việc soạn bài, chấm bài, cho điểm và phương pháp lên lớp cho từng
đối tượng. Ngay cả khi giáo viên đi thi giáo viên dạy giỏi, hiệu trưởng cùng
với khối, tổ chuyên môn tập hợp các nhóm bài bắt thăm hướng dẫn cụ thể cả về
KTCB và phương pháp giảng dạy trên lớp. Cho nên các đợt thi về giáo viên đều
phấn khởi bởi đạt được kết quả khá mỹ mãn.
Nghiêm khắc, cương trực, nghiêm túc trong
chuyên môn, nhưng tình cảm, tôn trọng, thương yêu đồng nghiệp, bạn bè, dễ gần
và gắn bó. một hiệu trưởng có cái tâm lớn, cái đức chuẩn mực lý tình trọn vẹn
... Đó là cảm nhận đầu tiên của những ai đã được tiếp xúc với cô, gần gũi và
công tác với cô .
Bởi thế 36 năm trong nghề dạy học, trong
đó có gần 30 năm làm công tác quản lý. Vậy mà rất nhiều học sinh biết đến cô,
yêu mến cô. Những năm trực tiếp đứng lớp, làm công tác chủ nhiệm, cô thường
quan tâm đến lớp, đến học sinh, nhất là
học sinh yếu kém, có hoàn cạnh khó khăn , đi sâu sát nắm bắt được từng hoàn
cảnh cụ thể để có điều kiện giúp đỡ, tạo điều kiện khắc phục; rồi kèm cặp bồi
dưỡng học sinh khá giỏi, phụ đạo học
sinh yếu kém ... Vì vậy năm nào lớp cô cũng có học sinh khá giỏi các cấp
và học sinh tiên tiến, tiên tiến xuât sắc nhiều . Mỗi một học sinh chăm chỉ học
hành, tiến bộ, phấn đấu tốt ; mỗi một em đạt học sinh tiên tiến, mỗi một cá nhân được công
nhận học sinh giỏi hay khuyến khích là
cô thấy niềm vui sướng, tự hào càng say
sưa với nghề nghiệp ... Biết bao lớp học sinh ra trường, biết bao học sinhh của
cô năm xưa đã trưởng thành , thành đạt như Tử Chuyên, Cao Chung,Vân Anh, Hoa
Lý, Thi Thơ, Trần Phương, Trường Giang, Cao Thuý, Thu Hương, Khánh Chi, Tú Oanh
...
Nhất lại có những học sinh trong đó có tình
cảm đặc biệt luôn gần gũi gắn bó với cô với cả gia đình tôi suốt thời gian,
quảng đời đi học từ cấp I, đến cấp II lên cấp III và cả chuyên nghiệp. Các em
xem nhà tôi như là gia đình thứ hai của mình , quan tâm, lo lắng, vui, buồn,
chia sẻ. Và vợ chồng tôi cũng coi các em như con cháu trong nhà, còn lo cho cả
khi vào trường và cả khi học xong chuyên nghiệp, tốt nghiệp ra công tác như
Tuyết Phương – Hiệu trưởng TH số 1 Minh Hợp , Bích Ngọc – giáo viên trường THPT
Quỳ Hợp II .
Thời Hiệu trưởng không trực tiếp giảng
dạy, không làm chủ nhiệm nhưng khi ốm đau giáo viên đi thăm, học sinh cũng đi
thăm mặc dù học sinh chỉ biết hiệu trưởng , tiếp xúc với hiệu trưởng chỉ trong
buổi sáng thứ 2 – tiết chào cờ, phổ biến lịch kế hoạch công tác và những khi có
điều gì cần trực tiếp vào lớp nhắc nhở hoặc thăm lớp dự giờ. Điều đáng nói là
khi học sinh đi thăm là tự ý thức chủ động, không có sự gợi ý, bày nhủ của giáo
viên chủ nhiệm hoặc gia đình. Có nhiều trường hợp rất cảm động. Bởi các cháu
mới 6,7 tuổi, học lớp 1, 2 mà đã biết:
thấy thầy cô đi thăm hiệu trưởng ốm đau cũng về đòi, xin mẹ tiền mua quà để đi
thăm; khi cô không nhận lại khóc. Buộc cô phải nhận sau đó nói khéo, cho lại
cháu mua sách vở, mới chịu nhưng không được vui. Đó là trường hợp cháu Lê Tú
Oanh, cựu học sinh lớp 1 năm 1995 – 1996, nay cháu đã qua thời sinh viên đại học
ra trường công tác đã 3, 4 năm nay. Đây cũng là một trong nhiều học sinh giỏi
và thành đạt của cô trong những năm làm quản lý giáo dục. Và cũng như Tuyết
Phương, Bích ngọc, Tú Oanh cũng là trường hợp cho đến nay vẫn gắn bó, thân
thiết với nhà tôi. Cháu xem vợ chồng tôi như bố mẹ thứ hai của cháu – Xin được
gọi bác, xưng con; nhận con trai con gái tôi là anh cả chị đầu; Xa nhau: nhớ ,
luôn điện thăm hỏi; lâu ngày về quê đến bác, anh chị đầu tiên. Và tất nhiên
chúng tôi cũng coi cháu như một thành viên trong gia đình.
Bởi thế mỗi lần có quyết định thuyên
chuyển công tác, tập thể giáo viên, có cả ý kiến đại diện “Hội cha mẹ học sinh”
đều làm đơn kiến nghị gửi cấp trên xin cho cô ở lại trường. Mặc dầu trước đây
khi nghe tin cô về trường ai cũng ngại vì sợ cô khó tính, lại quá nghiêm khắc
trong công việc, nhất là chuyên môn ... Ngay ngày chia tay về nghỉ hưu nhiều
giáo viên khóc, cô cũng mủi lòng, nghẹn ngào rưng rưng lệ làm cho buổi chia tay
càng lưu luyến bịn rịn, nước mắt sụt sùi. (Điều đáng nói là hôm chia tay, tiễn
cô không chỉ đông đủ giáo viên, học sinh toàn trường mà còn có cả phụ huynh học
sinh, nhất lại có cả lãnh đạo địa phương, lãnh đạo phòng, cán bộ chuyên môn
phòng giáo dục – đào tạo.
Nay đã nghỉ hưu nhưng tình cảm của nhà
trường, của giáo viên đã từng làm việc cùng công tác với cô, có người dù chỉ một
vài năm, thậm chí chỉ vài ba tháng nhưng cũng rất gần gủi, gắn bó với cô, luôn
nghĩ đến cô. Ngày lễ ngày tết đều tổ chức đi thăm, tặng quà, chúc mừng cô. (Có
cả danh nghĩa tập thể giáo viên và cá nhân)
Về hưu nhưng cô vẫn quan tâm đến trường
với sự nỗ lực vươn lên của đội ngũ giáo viên, vẫn theo dõi, nắm bắt từng bước đi của nhà trường mà cô đã từng làm
hiệu trưởng, đã gắn bó và đã có công đóng góp xây dựng trưởng thành .... Cho
nên dù cô đã nghỉ hưu, quan hệ công tác không còn nữa, thời gian có qua đi, xã
hội đổi thay, xoá nhoà mọi thứ, nhưng trong kí ức giáo viên, trong tình cảm
giáo viên vẫn luôn dành cho cô – một hiệu trưởng hết mực vì trường, vì học sinh
thân yêu vì tất cả mọi người tin tưởng, thương yêu, kính trọng.
Hiệu trưởng hai trường, cả hai trường đều
đạt chất lượng cao của huyện, công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ một.
Ngoài nguồn kinh phí của nhà nước cấp đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị
giảng dạy, cô còn cùng ban lãnh đạo vận động nhân dân, nhất là tầng lớp phụ
huynh học sinh đóng góp cùng làm và đã xây dựng được những ngôi trường khang
trang, sạch đẹp, có tường rào bao quanh, đạt tiêu chuẩn .
Làm được như vậy, bởi như có người nhận
xét : “Cô vốn có đầu óc thông minh, nhanh nhẹn tháo vát và nhất là có một ý chí
quyết tâm cao” . Và mọi đều may mắn đến với cô, không chỉ đạt ước mơ dạy giỏi,
giáo viên giỏi mà hơn thế, cô còn là người quản lí giáo dục khá vững vàng, được
đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường, cán bộ lãnh đạo địa phương và các cấp trên
tín nhiệm, tin tưởng. Và mọi người luôn nhìn thấy trong ánh mắt cô luôn tràn
đầy lòng quyết tâm, cô luôn là niềm tin và hy vọng của mọi người, của tập thể,
của tổ chức ...
Nhận xét định kì hàng năm, thường được
cấp trên ghi nhận “Tác phong đạo đức tốt, năng nổ nhiệt tình trong công tác. Có
tinh thần vượt khó, ý thức vươn lên cao, trung thực chân thành, biết sử dụng
con người, quý trọng nhân tài khiêm tốn học hỏi, sáng tạo đổi mới vững chắc. Có
năng lực, có uy tín, công tác quản lí có hiệu quả, luôn hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ được giao ” .
Có thể nói cô là một hiệu trưởng, một nhà
giáo đã một đời tận tâm cho sự nghiệp giáo dục, cống hiến cho sự nghiệp trồng
người. Một con người có một tình yêu chân thành, lòng đam mê nghề nghiệp, gắn
bó lâu dài với sự nghiệp, gây cho mọi người ấn tượng tốt đẹp ...
Nhà tôi không chỉ là người tận tâm, tận
tuỵ với nghề mà còn là chổ dựa vững chắc cho gia đình .
40 năm, kể từ ngày cưới tôi đã có một gia
đình êm ấm: Một vợ hai con trưởng thành, Con gái đầu Phạm Thị Quỳnh Nghĩa, theo
nghiệp bố mẹ, giáo viên cấp 3 đã có gia đình, chồng Nguyễn Xuân Trường giáo
viên Anh văn, đã có 2 con đủ cả nếp lẫn tẻ. chúng tôi cũng rất vui vẻ tự hào với
2 cháu ngoại: Nguyễn Thị Khánh Linh và Nguyễn Minh Đức: xinh ngoan, thông minh
.... Con trai Phạm Xuân Ngọc kĩ sư xây dựng thuộc tổng công ty cổ phần xây lắp
dầu khí VN Vũng Tàu chưa thành lập gia đình riêng (Đường con cái vợ chồng tôi
hiếm, muộn màng tôi cha già con muộn) . Bù lại, tôi có một gia đình tuy chưa
được tuyệt vời như số người đã khen và nhận định, nhưng như thế với tôi cũng đã
thoả mãn, mỹ mãn lắm rồi. Bởi vợ chồng biết thông cảm, chia sẽ, thương yêu nhau,
biết sống vì nhau ...
Theo con mắt, cách suy xét, nhìn nhận của
mọi người thông cảm gần gũi, nhất là hai đứa con: Bố nóng tính nghiêm khắc
nhưng độ lượng biết yêu mẹ thương con (kể cả hai cháu ngoại cũng rất
thương yêu chiều chuộng). và ngược lại mẹ cũng giành tất cả không chỉ tình yêu,
tình thương mà cứ có gì về vật chất mẹ đều giành, nhường nhịn cho bố con. Miếng
ăn ngon, của vật lạ ít khi mẹ đụng đến ... Một người mẹ dịu dàng, đôn hậu, trìu
mến làm sao. Đời mẹ hình như ngoài công việc xã hội chỉ để yêu thương và hy
sinh cho chồng con ... Như có lần con đã nghe bố kể về hai bà nội, ngoại ....
Còn hai đứa con Quỳnh Nghĩa, Xuân Ngọc
làm sao có thể yêu bất cứ người nào trên đời này hơn học hoặc bằng bố mẹ được (Ngoài
vợ chồng con cái khi có gia đình) . Nhất là với bố, càng lớn càng hiểu bố, càng
yêu bố kính trọng bố. Bố đi lâu xa lâu ngày: Nhớ, khóc, đến bữa ăn nhắc, điện
thoại gọi, hỏi thăm xem bố đã ăn cơm chưa, có khoẻ không, khi nào bố về ...
Điều đặc biệt, con gái được nghe mẹ và Mự
Tuất (Chị dâu mẹ ) kể lại, hồi nhỏ cho đến năm, bảy tuổi cứ bố đi công tác xa
dăm ba ngày là ở nhà con kém ăn , cảm sốt, ốm đau, có lúc phải đưa đi trạm xá,
bệnh viện bác sỹ khám. Bố về là khỏi, vui chơi bình thường. Điều đó cũng khó
giải thích và cũng không hiểu ra sao cả - Có điều, đó là sự thật mà không phải chỉ
một vài lần mà nhiều lần như thế. Hình như có một sợi dây tình cảm nào đó luôn
được gắn kết bền vững. Nhiều người còn nhận thấy cả hai đứa con, đứa nào cũng
vậy, càng lớn càng giống bố.
Trong lĩnh vực tình cảm, ai lại không
yêu, không quý, không kính trọng người
đã sinh ra và đã nuôi nấng mình khôn lớn, lại cho ăn học đến nơi đến chốn đã
trưởng thành, thành đạt. Hơn nữa biết được bố mẹ sinh ra và nuôi con trong điều
kiện hết sức khó khăn, lại trong thời kì bao cấp những năm 80 của thế kỉ trước.
Nhất lại cả hai đứa con từ nhỏ đã bị ốm đau, bệnh tật, lại tội lười ăn , nhác
uống. Tiền thuốc nhiều hơn tiền cơm.
Thuốc nặng hơn người. Con gái sơ sinh Phạm Thị Quỳnh Nghĩa mới một tuần tuổi đã
bị thối rốn do khi cắt rốn, sát trùng, băng bó không cẩn thận để gạc ngoài băng
nằm trong bị nhiễm trùng. Lúc tháo băng hộ lí y tá không biết, không để ý cho
là đã đến hạn mở cứ thế lôi ra đứt cả vết thương. (tiếp giáp giữa băng và đầu
rốn) máu, mủ chảy ra, toàn thân tím tái,
ngất xỉu tưởng đi luôn từ đó làm bố mẹ không còn chi là hồn vía, đau thương lo
lắng ... Được phúc trời thương, tổ tiên phù hộ cứu chữa kịp thời lại có loại
thuốc khử trùng hiệu nghiệm, thuốc bổ quý hiếm mà em Thuận (Học sinh cũ ) đang
học Đại Học Bun Ga Ri Gải gửi về làm quà cho thầy
Chưa hết, chưa đầy 3 tháng tuổi, mụn nhọt
đầy đầu. Trước sau, hai bên đều mụt mà lại sưng to, mủ nhiều, Ủ nằm không được
bố mẹ phải thay nhau bồng bế ôm cho con suốt đêm đến sáng. Có thể nói trong
những ngày tháng đó, thời gian ở trạm xá NTQD 3/2, bệnh viện Quỳ Hợp nhiều hơn
ở nhà. Cũng trong thời gian này bố làm hiệu trưởng trường cấp 3 VHVL 3/2 gần
nhà mẹ lại có chế độ nghỉ sinh và khi con đau ốm cũng có điều kiện thời gian,
chăm sóc con .
Còn nữa là những tai nạn bất thường xẩy
ra mà ta không lường trước được . Một lần chơi đùa với bạn (trò đuổi bắt ) bị
đầu trán va vào cửa, trúng vào chốt sắt máu ra nhiều. Một lần ở bệnh viện níu
kéo đình màn bị đứt dây ngã ngửa từ
giường xuống nền xi măng bị chấn thương phía gáy sau. Năm 12 tuổi múc nước
giếng, cây tre làm cần buộc gàu gãy đập vào đầu bị trọng thương. Đó là chưa kể
những nạn nhỏ thường xẩy ra hàng ngày như đêm hôm chơi đùa với bạn bè chạy nhảy
vấp ngã, va vào hàng rào, dậm phải mưởng chai hay như lần ngã xuống hố vôi, may
mà hố vôi tôi đã lâu nên không bị bỏng, chỉ phải tắm rửa, gọi đầu trong đêm
trời gia lạnh. Cũng may, cuối cùng cũng qua đi, cũng khỏi, tuy có lúc động
trời, hơi gió thời tiết thay đổi còn hay đau đầu, sổ mũi .
Con trai Phạm Xuân Ngọc lúc đẻ mẹ phải mổ
(do thai quá lớn, mới lọt lòng đã được 4,5 kg. Khi lấy ra bác sĩ Liễu Trưởng
khoa sản sơ ý làm trật khớp xương đùi nhưng không ai để ý, lai đưa về nhà bú dì
(Chị gái mẹ đang nuôi con 4 tháng tuổi) và hai bà nội, ngoại chăm sóc (Mẹ phải
ở lại bệnh viện điều trị vết mổ). Hai bà lại thấy con mình hiếm hoi nay có thêm
cháu trai, lại càng thương con cháu, nên rất kiêng cữ. suốt ngày thay nhau bồng
bế cháu, cháu lúc nào cũng được ủ kín trong chăn, cửa lại đóng kín mít sợ hơi,
sương, gió, ai vào thăm cháu cũng không cho, sợ mắc phải vía (Quan niệm xưa các
cụ phải được chẵn tháng) ... Nên lại không biết gì về trật khớp xương của cháu.
Chỉ biết mỗi lần người này trao cho người kia là cháu khóc thét lên. Nhiều lúc
khóc ngắt không ra tiếng, mặt tím tái cứ nghĩ là bị hơi hám, mắc phải vía (điều
này đã xẩy ra ngay từ đêm đầu tiên cháu mới ra đời ở bệnh viện ) .
Sau 5 ngày vết mổ của mẹ đã được gắn kết
, tương đối ổn định mới đưa cháu lên viện được bú sữa mẹ. Khi tắm rửa thay tã
áo cho cháu các bác sĩ y tá và cả người nhà mới phát hiện một chân của cháu bị
sưng to, bầm tím, co quắp không cử động được. Sự đau thương lo lắng của mọi
người nhất là bố mẹ cháu càng làm cho các bác sĩ, y tá và cả hộ lí dốc lòng tập
trung cứu chữa cho cháu. Đến khi chân cháu gần như đã khỏi, cử động được thì
cháu lại bị đi ngoài mất nước trầm trọng do dùng thuốc kháng sinh quá nhiều lại
cao liều nên khuẩn đường ruột bị diệt. (Nhưng nếu không thế thì chân lâu mới
khỏi mà để lâu thì như bác sĩ điều trị nói có thể thành tật )
Trầm trọng nguy hiểm đến mức có lúc đi
quá nhiều lần trong thời gian ngắn. Bú vào không tiêu, đi ra cả sữa. Thậm chí
có khi ngất xỉu, mắt nhắm nghiền, tay chân không cử động, toàn thân mềm nhũn
xanh sao như tàu lá. Truyền huyết thanh bổ sung nước không lấy được ven , bác
sĩ dùng kim tiêm chọc sâu vào gót chân cũng không được, Mẹ đã hốt hoảng van
khóc thảm thiết kêu trời cầu cứu ... Tưởng con xẽ không qua khỏi. Cậu cả (anh
trai mẹ ) trực tiếp gặp các bác sĩ giỏi mong “còn nước còn tát” tập trung cứu chữa cho cháu. Rồi được sự nhiệt tình cứu
chữa của các y bác sĩ, nhất là bác sĩ giám đốc
bệnh viện Hoàng Kim Tiệu, với tinh thần trách nhiệm của người thầy thuốc
trước bệnh nhân “đã tận tâm , tận lực tìm mọi cách, mọi loại thuốc phù hợp cứu
chữa qua khỏi.
Chưa hết đến hơn 2 tuổi con lại bị viêm
cầu thận và kéo dai hơn suốt 2 năm . Thuốc thang khá nhiều, chữa chạy quá vất
vả (Cả tây y, đông y và thuốc nam) mới chữa khỏi. Có thể nói đây là thời gian,
là lúc bố mẹ lo lắng, thương con nhất. Đau yếu kháng sinh vào cơ thể đã nhiều,
sữa mẹ lại ít, sơ sinh lại không được bú sữa non, thiếu đề kháng. Hơn nữa lại
không được ăn mặn. Thức ăn (Kể cả cá thịt ) chỉ có luộc, nướng, hấp, canh không
mắm muối, thậm chí tết phải gói bánh chưng, bánh tét riêng không cho muối. Đến
mức con thèm mặn quá, bữa ăn chỉ xin mẹ - cho con lấy đũa chấm một tí vào nước
mắm mút, thương hơn chị làm rơi một cọng dưa cải em vội vàng nhặt bảo em được
và cho ngay vào mồm. Quả đáng tội thật đáng thương...Tất cả làm cho con thêm ốm
yếu. Lúc lọt lòng nặng cân như vậy mà nay gầy nhom đến thế. Có lẽ vì thế mà chị
gái thường gọi một cái tên gần gũi trìu mến, dễ thương “ Còi”
Sau này hai con lớn lên biết rõ bố mẹ
nuôi nấng chăm nom như thế nào. thương yêu chiều chuộng ra sao qua mọi người kể
lại ,lại càng thương yêu bố mẹ hơn. Đó là chưa kể mẹ phải mổ khi bệnh viện
không có thuốc gây mê mà chỉ ít thuốc tê. Lúc mổ còn đỡ khi khâu, mỗi mũi kim
sợi chỉ xuyên qua thịt là một tiếng la thét lớn bởi quá đau đớn ... Nhưng khi
con chào đời, biết được đứa con trai an toàn, kháu khỉnh dù đau nhưng rất vui
mừng (điểm 10: gái đầu trai thứ hai). Đôi mắt người mẹ lóe lên tia sáng của
niềm vui hạnh phúc. Hạnh phúc có thêm đứa con yêu quý, hiếm hoi ra đời.
(Tiếp theo)
-
Chị
em
-
Còi
4/Những người bạn cùng chí hướng, chung
đường đi từ thuở ấu thơ đến tuổi trưởng thành
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét