NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG ĐÃ QUA
(Hồi ký)
Tôi không phải là nhà văn mà là nhà giáo dạy
văn. Một nhà giáo dạy văn lâu năm ở trường THPT. Xuyên suốt 40 năm trong ngành giáo dục, chỉ có 15 năm làm công
tác quản lý, còn lại trực tiếp đứng trên bục giảng. Với một người tâm huyết với
nghề, tận tâm gắn bó với cuộc đời, những điều tôi chắp bút viết ra là sự thực
cuộc đời tôi. Bởi tuổi thơ ấu của tôi gắn liền với bao biến cố của thời cuộc, của
cuộc đời. Những kỷ niệm gắn bó với tôi từ
khi sinh ra, lớn lên đến lúc trưởng thành và mãi đến bây giờ.
Tôi sinh ra vào đúng năm đói khủng khiếp - năm
ất Dậu 1945 đã ghi vào trang sử sách. Cách mạng tháng 8 tôi thuộc diện trẻ sơ
sinh, chưa được nửa tuổi . Chiến thắng Điện
Biên Phủ tháng 5 - 1954 tôi vừa tròn 9 tuổi. Tuổi thơ ấu và tuổi niên thiếu của
tôi đi cùng năm tháng của cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm, kết thúc bằng chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu, rồi cả cách
ruộng đất, dân cày có ruộng, đất nước bước sang trang sử mới.
Tôi hoạt động cách mạng kể từ khi được kết nạp vào Đoàn TNCS ngày 22 tháng 12 năm 1963. Từ đây tôi thường ghi nhật ký vì làm cũng phải ghi nhớ và
có tư liệu để sau này viết hồi ký.
Tôi trưởng thành - khi thực sự là một giáo viên đã được trải nghiệm và đã 15
năm làm công tác quản lý giáo dục, tôi bắt đầu viết hồi ký từ năm 1993 và cũng
chính con số 3 cuối cùng cũng ngẫu nhiên cách nhau 10 năm nay đã gắn bó với tôi
biết bao nhiêu kỷ niệm. Đó là những năm tháng đáng nhớ không bao giờ quên.
- Năm 1953: Năm đầu tiên cắp sách tới
trường
-
Năm 1963: Một liên đội trưởng ưu tú được chuyển thẳng lên Đoàn, bắt đầu tham
gia hoạt động cách mạng.
-
Năm 1973: Sau đợt đi học trường BDTW chi viện cho B được kết nạp vào Đảng cộng
sản Việt Nam .
Và cũng trong năm đó thành lập gia đình
và 10 năm sau
- Năm 1983: Lần đầu tiên tổ chức sinh
nhật đứa con gái đầu lòng tròn 1 tuổi, điều mong mỏi suốt 10 năm nay.
- Năm 2013: Được tặng huy hiệu 40 năm
tuổi Đảng, kỷ niệm 50 năm ngày tham gia hoạt động cách mạng, 60 năm tựu trường
bước vào con đường mới tuổi ấu thơ.
Cuốn hồi ký mang tên “Những chặng đường
đã qua”, mục đích ghi lại những chặng đường, thời gian tôi đã đi qua. Đó là đường
đời, thời thơ ấu, thuở thiếu thời, đi học, hoạt động công tác và trưởng thành.
“Những chặng đường đã qua” còn ghi lại những cảm xúc, những tình cảm thân
thương, trìu mến, sâu nặng của tôi đối với quê hương, đất nước, con người. Đó là
làng Sen, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Đó là nhà trường, là các thầy, cô giáo đã
giáo dục, dạy dỗ tôi. Những người thầy đầu tiên, không có cuối cùng.
“Những chặng đường đã qua” còn ghi lại những tình cảm của tôi đối với
gia đình, lòng kính yêu biết ơn cha mẹ, tình yêu vợ , thương con, tình anh em,
tình bạn bè sâu nặng và tất nhiên còn không quên tình đồng chí, đồng nghiệp, đồng
hương và đặc biệt là tình thầy trò sâu đậm .
Cuốn hồi ký của tôi được hình thành 3 phần:
I- Phần thứ nhất: Thời thơ ấu
I- Phần thứ nhất: Thời thơ ấu
1, Ký ức làng
Sen (2 di tích tiêu biểu: Đình Sen, bến phà Sen)
2, Làng Sen - tuổi thơ gắn liền bao thời cuộc
(Nạn đói 1945, CM T8, kháng chiến thắng
lợi, CCRĐ). Đặc sản tiêu biểu Ngô, măng.
II- Phần thứ hai:
1, Đi học - đi học và những người thầy đầu
tiên
2, Trường đời - Trưởng thành
III- Phần thứ ba: Những
người sống bên tôi
1, Ký ức về thân sinh tôi: Bố, mẹ
2, Những trang viết về anh, chị tôi.
3, Những trang viết về vợ, con tôi.
4, Những người bạn cùng chí hướng, đường
đi từ thuở ấu thơ đến trưởng thành (có thể lồng ghép trong các phần, chương trên).
THỜI
THƠ ẤU
ChươngI- Ký ức làng Sen.
Quê gốc tôi Ngọc Châu, Cồn Cát, Diễn Tháp, Diễn Châu. Tôi sinh ra và lớn
lên tại một vùng quê miền Tây, xứ Nghệ; một miền quê nghèo khó bên dòng sông
Con bốn mùa nước trong xanh, hiền hòa trôi chảy . Trong làng có nhiều hồ nhỏ mà
người dân quê tôi gọi là bàu. Tuy không rộng lớn nhưng cũng đủ nước cho cả 4 mùa
để nuôi sống các loại thủy sản: cá, tôm, cua, ốc, ếch và trai, hến ... một nguồn
thực phẩm vô tận, thức ăn dữ trữ cho con người. Có bàu còn có cả Sen. Khi mùa hè
đến những cánh sen hồng rực rỡ khoe sắc, mùi hương của hoa sen thơm ngát làm
cho khung cảnh quê hương trở nên hữu tình, thi vị. Có lẽ vì thế mà có cái tên
“Làng Sen”, một cái tên tượng trưng cho sự dịu hiền, giản dị, tinh khiết, sự vươn
lên mạnh mẽ trẻ trung. Khi tôi sinh ra, lớn lên đã có tên làng và hai tiếng “Làng
Sen” đã trở nên gần gũi thân thiết với tôi từ thuở bé thơ và làng Sen tôi hồi ức
ở đây là làng Sen từ thập kỷ 60 trở về trước, trong khoảng năm, bảy trăm năm. Còn
từ những năm 60 của thế kỷ 20 do chiến tranh ác liệt làng đã chuyển dời lên Eo Đế.
Trước cách mạng tháng tám năm 1945 làng mang tên Tri Lễ thuộc tổng Cự Lâm, gồm các xã Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình, Nghĩa
Hợp, Nghĩa Dũng, Nghĩa Thái và Nghĩa Hoàn ngày nay. Tổng Cự Lâm thuộc phủ Quỳ
Châu. Bên làng Sen phía Tây Bắc có làng
Mài sau gọi là Xuân Liên có bàu sen nép
mình bên cạnh. Lý do gì mà gọi “Làng
Sen”? không biết từ “Sen” ở đây lấy từ hồ sen, bàu sen, hoa sen hay “sen” là
“liên”, Phượng Liên. Chưa ai giải đáp rõ. Qua thời gian dài tìm hiểu, qua nghiên
cứu lịch sử và các bậc cao niên tiền bối
kể lại: Sở dĩ có cái tên “làng Sen” vì ngày xưa, đã lâu lắm rồi có lẽ là phải năm,
bảy trăm năm là ít, giữa làng có cái hồ sen rộng lớn mà người dân quê tôi thường
gọi là “bàu”, vốn là khúc sông bị bồi lấp của con sông Con (đoạn gần cuối sông
Hiếu). Chứng tích còn lại là bàu Cóp, bàu Rác, ở giữa làng, rải rác có các ao hồ
như: ao Cổng Bắc, ao ông Phấn Bẹn, ao Cửu Mai, ao ông Chín, ao ông Chử, ông Củng,
ông Nhung và đặc biệt có bàu Sen ở phía Tây Bắc làng. Mùa hè bàu nước, lá sen
trong xanh một màu nổi lên là những đóa hoa sen hồng phơn phớt tím tỏa hương thơm
ngào ngạt.
Thiết nghĩ của tôi có lẽ đúng. Theo địa hình, dòng chảy của con sông Con
bây giờ và các bàu, lạch hiện có nó đi gần như song song với nhau. Dòng sông
Con (đoạn gần cuối sông Hiếu), sau khi qua đất Nghĩa Bình dòng chảy từ phía Bắc
(Bãi Giang) xuống phía Nam (Đồng Bàu) có bàu Sen, bàu Cóp, bàu Rác. Từ đồng Bàu
chảy đến bến Vực Lồ, dòng chảy theo hướng Đông Tây, phía Bắc (Hữu Ngạn) có các
bàu: Bàu Già, bàu Quốc (Vụng Quốc), bàu Vả (vụng Vả), nối tiếp là
một con lạch từ Hủng Mưng, chảy qua Đồng Thang, Rộc Vó xuống bãi Sải, vực Vàng
...
Làng lại nằm khiêm nhường bên đường Quốc lộ 15A mà bà con quen gọi là “đường
cái quan”. Địa hình bằng phẳng được phù sa từ con sông Con bồi đắp, Xung quanh làng
xa xa là đồi núi, giữa thung lũng là những cánh đồng phì nhiêu, trù phú, có nhiều
bãi bồi thích hợp cho sự phát triển hoa màu, lương thực: bãi Giang, đồng Bàu, bãi
Đào, hác Ráng, đồng Sòi, đồng Thang, bãi Sải, đồng Rác, xâu Lươn, hủng Mưng, cổ
Kiềng. Đặc biệt là có những cánh đồng trồng
lúa nước: đồng Gà, đồng Sen, đồng Cung, cồn Hội, cây Gáo, khe Mai, đồng Lăng, đồng
Quan, rộc Nứa...
Có thể nói đây là một vùng quê thuần nông, giàu có chưa được khai thác và đây cũng là nơi đầu tiên và cuối cùng gắn
bó tôi, níu giữ tôi với cội nguồn và cũng như mọi người dân nơi đây, chúng tôi luôn tự hào mỗi khi nhắc tới tên làng. Bởi nó không chỉ là một đơn
vị hành chính đơn thuần mà còn là một địa danh lịch sử lâu đời; một cộng đồng văn
hóa có đặc thù riêng. Và nơi đây còn nhiều chứng tích lịch sử của Nghĩa Đồng,
Nghĩa Đàn xưa gắn với quá khứ hào hùng của một vùng quê giàu truyền thống cách
mạng. Mà một trong những chứng tích lịch sử đáng ghi nhớ đó là Đình Sen hay còn
gọi là Đình Trung. Theo các bậc cao niên trong làng xã xác định kể lại: Ngôi đình
được xây từ năm Bính Dần (1926) vào niên hiệu Bảo Đại thứ 2. Đây là ngôi đình lớn,
nổi tiếng thuộc diện bậc nhất với các đình của làng xã ven sông Hiếu ở Nghệ An.
Đình được làm theo kiểu nhà tứ trụ, trước cổng là hai cột nanh cao khoảng
5m, trên cùng đắp tạo hai con hổ ngoảnh mặt vào nhau, hai bên cổng chính xây đắp
hai vị tướng cầm kiếm đứng gác. Hai cánh gà hai bên đổ đúc hai con hổ chầu. Hai
bên sân đình có hai cờ đại với chiều cao khoảng chừng trên 8m. Trên nóc đình được
đắp nổi hình tượng hai con rồng theo kiểu “Lưỡng long tranh châu” hai con rồng
hướng về quả cầu lửa trông rất đẹp mắt trang kính, uy nghiêm, thượng hạ nhất quán.
Chất lượng chủ yếu là cát mật vôi vữa được gắn bởi các mảnh sành sứ . Ngôi đình
gồm 5 gian lợp ngói âm dương. Bốn đầu đao cao vút là hình tượng bốn con nghê chầu, chiều cao từ
đỉnh xuống đến chân cột là khoảng trên 6m, chiều dài trên 19m, rộng gần 10m, với
24 cây cột bằng gỗ lim. Cột lớn cao trên 5m, chu vi khoảng 1,3m; cột thấp gần
4m, chu vi hơn 1m đều có đá tảng kê chắc chắn.
Trong đình có đầy đủ đồ tế khí, gồm hương án cổ được sơn son thiếp vàng,
kiệu song loan, lọng cổ, cờ đại tướng, bát bảo, ngũ sự bằng đồng, lư hương, mâm
rượu và hai con hạc bằng đồng đứng trên hai con rùa. Trên các cột, vì, xà, kèo,
mái, viền được chạm trổ hoa văn một cách
tinh xảo. Các vật được chạm khắc đó là những con vật trong bộ tứ linh, tứ quý mà
các nghệ nhân xưa vẫn thường sử dụng. Nơi mới xây dựng đầu tiên cảnh vật quanh đình
còn tĩnh mịch, cây cối um tùm. Trong khuôn viên đình là những cây cổ thụ lớn, rất
cổ kính, thiêng liêng và nổi lên là những cây lim, cây sú, cây mát, cây xoài (
mà bọn trẻ chúng tôi gọi là “trôi”, chứng tích còn lại là có những gốc lim to, đặc
biệt vẫn còn cây trôi Thượng “Thắng”.
Vào năm 1947, sau một trận lũ lớn, vùng đất phía Đông đình giáp với bờ sông
lạch bị sạt lở, đình được chuyển đến một vị trí mới tiến sâu vào làng, gần đường
cái quan, đối diện phía Tây bên kia đường là mấy đền chùa, phía Nam đình là bàu
Cóp. Tại vị trí này đình được trùng tu lại, tuy nhiên chung quanh không được như
địa điểm cũ.
Đầu những năm 50 của thập kỷ trước, sau những năm đi sơ tán vì chiến
tranh ác liệt chống thực dân Pháp, khi chưa xây dựng được trường học cho các cấp, xã quyết định dùng ngôi đình
tạm làm trường học cho các lớp trường cấp I Nghĩa Đồng (tôi được gần gũi gắn bó
3 năm học ở ngôi đình này), từ lớp 2 đến lớp 4).
Đến năm 1976, khi dân làng từ các xóm Thượng Thắng, Đông Giang, Đại Giang,
Hoa Bắc, Nam Tiến và cả 2 xóm Hồng Yên, Xuân Liên (thuộc làng Mài cũ) dời lên hết
Eo Đế thì đình Sen vẫn nằm chơ vơ giữa cánh đồng mênh mông cỏ cây um tùm . Ba năm
sau 1979, nhận thấy ngôi đình ngày một xuống cấp bởi nắng mưa, gió táp, bởi khoảng
cách thời gian vắng bóng con người, UBND xã Nghĩa Đồng mới có chủ trương đưa đình
Sen theo người lên đồi và đặt tạo địa điểm xóm 7 hiện nay. Nơi đây đình được dựng
quay mặt hướng Đông, có con đường cái lớn liên thôn chạy qua, phía trước là cánh
đồng lúa mênh mông, tiếp giáp là đường Quốc lộ, phía Nam là hồ sen. Đình được xây gạch bao quanh dùng làm tạm cửa hàng thương
nghiệp của HTX mua bán xã. Sau đó năm 1980
làm trụ sở của Đảng uỷ, UBND xã. Mặc dù di chuyển nhiều lần ở nhiều địa điểm
cách xa nhưng vẫn được trùng tu đầy đủ,
trọn vẹn nên cơ cấu thiết kế ban đầu của đình cơ bản vẫn được giữ nguyên vẹn.
Tại đình Sen thời gian trước Cách mạng tháng Tám, nhất là vào những năm
cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhân dân ta, chủ yếu là bà con nông dân, thêm ít tiểu
thương thường lấy cớ họp làng trao đổi chuyện làm ăn để qua đó bàn chuyện đấu
tranh, nhằm che mắt kẻ thù (bọn tay sai thực dân, bọn chức sắc, cường hào, gian
ác trong làng). Từ đó các cơ sở Đảng ở Tri Lễ ngày được củng cố và phát triển.
Phong trào quần chúng lên cao, các tổ chức Hội được thành lập mà tiêu biểu nổi
lên là Đội tự vệ đỏ làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, phát hiện ngăn chặn bọn
tay sai bán nước luôn dòm ngó, phá hoại các cơ sở cách mạng của Đảng. Một thời
gian chi bộ Đảng còn lấy đình Sen làm trung tâm, nơi đầu mối giao lưu, liên lạc,
hội họp cũng là nơi in ấn các chỉ thị, Nghị quyết, cất dấu tài liệu mật . Đây cũng
là nơi phát ngôn tuyên truyền của các cán bộ, đảng viên kêu gọi nhân dân, vận động
quần chúng đứng lên đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, chống áp bức bóc lột . Đồng
thời tổ chức các cuộc mít tinh phản đối đế quốc thực dân và phong kiến khủng bố,
đàn áp phong trào cách mạng.
Trong quá trình hoạt động, xây dựng
lực lượng cách mạng cơ sở đoàn thể, những người cộng sản trung thành từ đấu
tranh bất hợp pháp đã góp phần thổi bùng ngọn lửa, âm vang tiếng trống Xô Viết
Nghệ Tĩnh.
Do bị đàn áp, khủng bố đã man sự truy nã gắt gao số cán bộ dưới xuôi lên (chủ yếu người Diễn Châu) hoạt động phải
dời qua Khe Thần Cồn Mối ẩn náu. Lúc này hoạt động của các cán bộ đảng viên và
nhân dân gặp không ít khó khăn, vào những năm cao trào Xô Viết lên cao rồi lắng
xuống, hầu hết các chi bộ được cán bộ dưới xuôi lên trực tiếp xây dựng và chỉ đạo
bị tan vỡ. Một số đảng viên trung kiên không chịu khuất phục trước quân thù, không
chịu đầu hàng bọn tay sai bán nước và cướp nước đã bị xử tử hình tại sân đình.
Nhưng sau đó không lâu, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, cấp
trên, các tổ chức đoàn thể, hội Nghĩa Đồng nói chung Làng Sen nói riêng lại được khôi phục đi vào hoạt động bí mật, tập
hợp lực lượng cách mạng, tạo khí thế đấu tranh mới làm cơ sở cho cuộc cách mạng
tháng Tám năm 1945 giành nền độc lập tự do cho quê hương đất nước.
Trong cuộc đấu tranh cách mạng đó, Tổ quốc mãi mãi ghi công những người
con Xô Viết trên quê hương làng Sen kiên cường, bất khuất, không quản gian
nguy, không tiếc xương máu, hi sinh thân mình cho quê hương đất nước như ba đồng
chí Nguyễn Linh, Lê Nguyệt, Lê Thạch . Hiện các đồng chí đang yên nghỉ tại nghĩa
trang liệt sĩ xã Nghĩa Đồng giáp đường 15A đối diện cổng “Làng văn hóa Làng
Sen”.
Và nói đến địa danh ghép với từ “Sen”
không thể không nhắc đến “Bến phà Sen”.
Bến phà Sen có tên gọi khác Bến Vực Lồ.
Bởi con sông Con khúc qua ghềnh đền Vực Lồ phân cách giữa hai xã Nghĩa Bình ,
Nghĩa Hợp. Bến phà Sen, đò Sen có từ đầu những năm 20 của thế kỷ trước cùng với
sự xuất hiện của con đường 15 nối từ thành Vinh qua Thanh Chương đến Đô Lương lên
vùng đất đỏ Phủ Quỳ nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa thực dân Pháp.
Tuy là con đường huyết mạch có lợi cho việc lưu thông ở vùng Tây Bắc xứ Nghệ giàu
tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đất đỏ Bazan thích hợp cho việc trồng cây công
nghiệp như cà phê, cao su, cam, chanh, dứa, mía | nhưng chính quyền thực dân “bảo hộ” chỉ cho xây đắp thông thương
con đường đoạn qua sông Con cũng như qua sông Hiếu thượng nguồn của con sông
Con vẫn không bắc cầu mà chỉ có đò, phà
chèo chống gây bao khó khăn, nguy hiểmn cho người và các phương tiện qua lại.
Mãi đến những ngày đầu năm 2009, đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân khu
vực Tây Bắc xứ Nghệ, bến Phà Sen đã được bắc qua cây cầu vượt, một trong những
cây cầu lớn trên đường qua các sông suối
miền Tây xứ Nghệ, tạo cho giao thông các huyện miền núi Nghệ An được thuận lợi,
góp phần không nhỏ trong cụôc khai thác tiềm năng, tạo việc phát triển kinh tế
vùng Tây Bắc Nghệ An, không ngừng nâng cao cuộc sống ấm no cho đồng bào các dân
tộc miền Tây xứ Nghệ.
Người dân làng Sen nói riêng, nhân dân các làng thuộc Nghĩa Đồng, Nghĩa
Bình, Nghĩa Hợp, Nghĩa Dũng nói chung rất vui mừng, phấn khởi, tự hào đi qua cầu
ngắm cảnh sông núi, làng quê, chiêm ngưỡng vẻ đẹp duyên dáng, đồ sộ, vững chắc
của cây cầu soi mình trên dòng sông trong xanh uốn khúc mà hàng trăm năm nay mới
có được.
Rồi hồi ức về những năm tháng chống chiến tranh phá hoại leo thang ra miền
Bắc của đế quốc Mỹ. Nơi đầy từng là mục tiêu, trọng điểm ném bom tàn phá của không
quân Mỹ, biết bao trận bom thù cày xéo. Và hai bên bờ sông, hai đầu cầu từ Cồn
Ngô - Nghĩa Đồng cho đến Cồn Đền - Động Sú Nghĩa Hợp biết bao trận đánh trả ác
liệt của lực lượng bộ đội phòng không, của các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân
tự vệ chống trả máy bay Mỹ oanh tạc.
Những ngày tháng năm đó máy bay địch thường xuyên quần đảo, kiếm tìm mục
tiêu bắn phá bến phà. Kẻ thù đã trút xuống mảnh đất nơi đây hàng ngàn tấn bon, đạn
rốc két phá hoại bến phà, đường sá hòng ngăn chặn sự chi viện vũ khí, đạn dược,
lương thực, thực phẩm của hậu phương lớn
miền Bắc vào chiến trường miền Nam .
Nhưng quân và dân ta, nhất là nhân dân làng
Sen, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương với ý
chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, vẫn kiên cường “Chắc tay cày, vững
tay súng” cùng với các đơn vị bộ đội phòng không, công binh và công nhân bến phà
luôn bám sát bến phà và chiến đấu chống trả kẻ thù lập nhiều chiến công hiển hách.
Đó là vào một ngày giữa hè năm 1965, cũng như mọi khi, máy bay Mỹ kéo đến,
bầu trời ầm ĩ, xám xịt, đỏ quạch bởi tiếng gầm rú của động cơ phản lực, đạn nổ
của pháo cao xạ, súng máy liên thanh và lác đác, lẻ tẻ các loạt đạn súng trường
CKC, K44 của dân quân, rồi tiếng nổ rung trời chuyển đất, khói bụi mù mịt của
những quả bom chạm đất nổ tung, chủ yếu là vùng trọng điểm: Bến phà.
Lần này máy bay giặc Mỹ không chỉ bay về bến phà Vực Lồ mà còn quần lượn ngay trên đầu chúng tôi,
trên bầu trời rộng lớn không riêng làng Sen - Nghĩa Đồng mà cả xã Nghĩa Bình,
Nghĩa Khánh. Được sự chỉ bảo hướng dẫn của
các công an viên, dân quân, ban chỉ huy
quân sự xã và còi báo động khẩn cấp của đài
quan sát phòng không, mọi người đều xuống các hầm hào. Một chỉ huy trực chiến
phòng không cùng với đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Võ Duy Mậu và anh Phạm Văn Chu -
chủ nhiệm HTX Hoa Bắc phụ trách dân quân hội ý, chớp nhoáng, nhận định: Có thể
lần này nó mở rộng diện đánh phá ác liệt hơn. Theo hướng vòng lượn đảo của máy
bay, chắc chắn nó không chỉ đánh bến phà, đường 15A mà đánh cả đường mới 15B và
H47 nữa. Dự đoán không sai, liền đó là còi báo động liên hồi, dục giã và tiếng
hét thật to qua loa phóng thanh của đài quan sát, trạm chỉ huy trực chiến.
- Chúng cắt bom, đánh H47, ba cầu ngầm đường 15A và đường mới 15B. Một
tốp gồm 4 chiếc AD6 xuất hiện đang bổ nhào xuống vùng từ Ba khe theo Quốc lộ 15
đến Cồn Ngô xuống bến phà Vực Lồ và phía bên kia làng Ga, cồn Mối dọc hai bên đường
mới 15B.
Chúng tôi, ngồi dưới chiến hào trong các ngách hầm cá nhân, máy bay địch
rít trên bầu trời như xé toang màn không gian trời đất ra. Và như vậy, không chỉ
riêng làng Sen mà cả xã Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình nằm giữa gọng kìm, giữa một tam
giác mà ba đỉnh là ba trọng điểm. Thì ra, địch đã phát hiện ra đoàn xe quân sự
gồm 10 chiếc chở vũ khí từ tổng kho Cát Mộng- Nghĩa Đàn ra các chiến trường đang
trên đường 15, lúc đi qua 3 cầu (3 khe) cách Phà Sen dăm ba cây số gần sát H47. Máy bay địch lại lao đến. Những con ma vừa
xuất hiện bổ nhào, chúi xuống cắt bom, bắn Rốc két xối xả xuống những điểm dù
di động hay đứng im mà chúng cho là mục tiêu hòng đánh phá đoàn xe.
Mưu trí, kiên cường, dũng cảm, nhân dân làng Sen nói riêng, nhân dân các
dân tộc Nghĩa Đồng nói chung mà chủ yếu là lực lượng dân quân đã cùng với các đơn
vị xã bạn, với các đơn vị bộ đội phòng không trên đất Nghĩa Đồng đánh trả quyết
liệt kẻ thù, bảo vệ đoàn xe, đưa xe lánh vào các hẻm đồi, lùm cây, ngụy trang
xe cách an toàn.
Trận chiến đấu tuy không bắn rơi, bắn cháy một máy bay nào nhưng quân và
dân ta đã chiến thắng, kẻ thù đã rút khỏi, không bắn phá được mục tiêu, đoàn xe vận tải quân sự được
bảo tòan tuyệt đối.
Trong lúc máy bay ngừng hoạt động, tiếng máy bay xa dần rồi im bặt, còi
báo yên ở đài quan sát phòng không rú vang, mọi người lên khỏi hầm (chủ yếu ông
già, bà lão và trẻ em). Làng Sen vẫn nguyên vẹn chỉ phía trên Cồn Ngô, quanh
ven làng, dọc hai bên đường lỗ chỗ những hố bom, đất cát còn tươi nguyên. Một số
người đang sản xuất trên cánh đồng không có hầm trú ẩn bị mảnh bom cắt bị thương,
một vài người bị thương nặng máu ra nhiều, tử vong. Phía Bắc Nghĩa Bỡnh nơi gần
H47, cùng 3 cầu bị thiệt hại nặng về hoa
màu, cánh đồng bị tàn phá ghê gớm, khói còn mù mịt và lâu lâu bom nổ chậm nổ phát
tung, khói bốc cao lưng chừng trời và theo hướng gió bay tản về các làng mờ mịt.
Lại một đêm khủng khiếp, đêm định mệnh.
Đêm khuya, khoảng trời cao thăm thẳm, trăng non đã lặn khuất sau đỉnh núi
phía Tây. Hàng ngàn vạn vì sao rực rỡ rọi xuống đủ ánh sáng cho nhận được những
hình dáng đậm, nhạt, thấp, cao, to, nhỏ của từng ngọn núi, ngôi nhà. Con đường 15
lờ mờ ảo thực dưới ánh sao như trườn lên phía trước lăn mình trong cái huyền ảo
của trời đêm .
Sang canh chừng 1, 2 giờ sáng đột nhiên nghe 3 tiếng súng nổ . Tiếng đạn
rít xé toang không khí đánh thức cả không gian
tịnh mịch . Trên trời những con ma thần sấm gầm rú lao xuống vút lên . Ánh
sáng dưới mặt đất vụt tắt. Chúng lựơn
quanh, lộn nhào, thả pháo sáng mấy vòng quanh làng Sen. Con đường 15 lỗ chỗ ổ
voi, ổ gà, những hố bom to, nhỏ đen thui. Những chiếc đèn dù pháo sáng lóe lên
rồi tắt. Hai con ma từ trong bóng đêm hướng Bắc Nam, đến cồn Ngô một chiếc chúi
xuống, cắt bom. Bom lớn, bom nhỏ, có cả bom bi trút xuống. Chiếc khác thả pháo
sáng, bắn rốc két . Những luồng lửa đạn lóe sáng, chớp giật liên hồi, tới tấp,
những cột khói đen nghi ngút bốc cao, lan tỏa cả một vùng không gian rộng lớn.
Căn hầm chữ A nằm trong một ngách giao thông hào làm bằng tre tươi, phía
dưới ghép thêm những tấm bìa của những thân cây gỗ lớn, đắp trên nóc, đất cát dày
gần một mét lại thêm một lớp cây chuối to như những cột nhà lát khít mặt trên cùng
ấy thế mà rung chuyển như muốn hất tung lên. Gío bụi, khói bom đen trắng từng
luồng thổi tạt vào, bụi đất cát quyện lẫn trong khói thuốc súng phả vào mặt mọi
người sặc sụa, khó thở. Bầu trời, không gian làng quê đen kịt vì khói bom.
Lại hai ba điểm sáng xanh, đỏ, dập dờn, dần to, sáng lớn. Những chiếc máy
bay phản lực F4, F105 từ đâu lao đến. Một loạt bom rơi trúng vào khu chăn nuôi
trang trại của HTX nông nghiệp Thượng Thắng làm cho 24 con trâu cày kéo và một
số người không kịp xuống hầm bị mưởng bom cắt bị thương, trong đó có anh Nguyễn
Viết Thuận bạn học với tôi từ lớp 1 đến lớp 4. Do vết thương quá nặng anh đã tử
vong trong đêm.
Và
như mọi người nhận thấy càng vào những ngày miền Nam đánh thắng, giặc Mỹ càng
leo thang ném bom, đánh phá nhiều ở miền Bắc ác liệt hơn. Nghĩa Đồng nói
chung, làng Sen nói riêng cùng trong hoàn
cảnh đó. Dường như ngày nào cũng có những
vụ máy bay Mỹ ném bom, bắn phá bến phà. Bọn trẻ chăn trâu cũng như chúng
tôi (lúc này đã là thanh niên) đã dày dạn máy bay đến mức xem thường chúng, không
sợ hãi như trước. Mỗi khi nghe tiếng kẻng báo động, tiếng còi rú của trạm phòng
không trực chiến, tiếng máy bay giặc gầm rú là kéo nhau chạy xuống gần bến phà để
xem đạn pháo của ta bắn trả kẻ thù và khi chúng thả bom xuống sông mà bắt cá (tất
nhiên là đi dưới giao thông hào, có ngụy trang và đội mũ rơm).
Chiến tranh ác liệt, bom đạn đối với người lớn là nguy hiểm, là mất mát,
lo âu. Nhưng với lũ trẻ chăn trâu lại bất chấp tất cả, gần như chúng chẳng sợ hãi
gì. Chúng rất khoái chí khi được chạy từ nơi này qua nơi khác dưới các giao thông
hào để xem máy bay trút bom xuống gành Vực Lồ (nơi không có phà cất dấu mà chỉ là một hòn núi đá, trên đỉnh có đền
thờ). Và để thấy rõ hơn đạn pháo của ta bắn trả máy bay địch. Nhất là khi được
giao nhiệm vụ là đội viên thiếu niên đi chặt cành cây xanh ngụy trang cho xe pháo.
Có đêm máy bay địch thả pháo sáng, bọn trẻ chạy theo hướng chiếc dù đang từ từ rơi, rồi chờ pháo tắt, dù rơi xuống là
chạy đến tranh giành chia nhau mỗi đứa một dạu (một mảnh, một chéo) làm khăn quàng
hoặc để nguyên dùng chung, khi nhà nào có công buổi gì như đám tang, đám cưới căng
giữa sân thay cho rạp (nếu ban ngày thì phải dựng rạp trên lợp tranh để tránh mưa
nắng và máy bay, dưới căng chiếc dù như một chiếc ô rộng lớn).
Có bạn hay tếu, đùa vui nói rằng: Làng Sen từ sau ngày đêm bắn phá mục
tiêu không đạt mục đích gì bọn giặc lâu nay gần như tránh xa, không một quả
bom, viên đạn nào bén mảng đến. Máy bay Mỹ chỉ bắn phá khu vực phà, cách làng xóm
và nơi cư trú vài ba cây số. Tất cả rồi
sẽ qua đi trong sự thích thú, hiếu kỳ của bọn trẻ chăn trâu, nếu như không có
trận oanh tạc ác liệt xẩy ra vào một ngày trung tuần tháng bảy năm 1966.
Theo quy luật và thói quen, cứ vào lúc mặt trời nhô lên khỏi núi khe Thần,
khe Đá Mài giáp ranh Ba Xanh, Ba Quanh, động Cầu địa phận huyện Yên Thành là vài
ba máy bay phản lực cường kích từ Cồn Mối đồng Bàu bay đến. Chúng nhằm vào giữa
hai ngọn núi Cồn Đền và Cồn Vè mà lao tới, cắt bom. Vì đây là trọng điểm quen
thuộc của bọn giặc lái Mỹ, nay lại thêm con đường mới, đường 15B đi qua. Một lần
hai tốp gồm sáu chiếc máy bay lướt qua. Chiếc máy bay thứ ba của tốp hai đã lọt
vào tầm ngắm của khẩu đội 12ly7, cùng lúc các nòng súng CKC, K44, liên thanh đồng
loạt nhả đạn. Chiếc máy bay như bị cắt đuôi,
một giải khói đen phụt ra phía sau. Tổng đài quan sát Mua ,Cua, Cây Thị , Đội Bãi
thông báo máy bay không theo hướng Động Sú, Hốc Sắn cùng tốp bay về hướng Tây mà
đến Hóc Bà Nghiện quay ngoắt lại Bụi Hóp, theo hướng Đồng Kho, Động Dài xã Nghĩa
Dũng lướt triền núi Yên Thành lao thẳng ra biển Đông, có thể nó đã bị thương. Các
khẩu đội phòng không, trực chiến vẫn không rời vị trí, sẵn sàng nhả đạn khi kẻ
thù quay trở lại.
Khoảng hai, ba giờ chiều, từ phía Đông, những chiếc máy bay như những chấm
đen, những con én, con quạ, rồi như những con diều hâu cứ to dần, đậm dần đã lọt vào tầm ngắm của các xạ thủ . Những
con ma, thần sấm đã lướt qua. Một chiếc phản lực rít qua ngọn núi Cồn Vè. Các
pháo thủ, xạ thủ chưa kịp điều chỉnh cự ly, hướng ngắm, nó đã quay ngoặt lại bay
theo sườn núi Cồn Đền dọc đường quốc lộ 15 qua Cồn Ngô, H47 bay thẳng lên Nghĩa
Khánh hướng Truông én, Cát Mộng rồi quay ngược chiều hướng, như đang trinh sát
tìm kiếm mục tiêu. Làng Sen nằm trong vòng phong tỏa, tiêu điểm hủy diệt của không
quân Mỹ.
Đột
nhiên, từ hướng Đông xuất hiện hai chiếc máy bay F4 vừa đến tầm đỉnh Cồn Rô bên
đường mới đã chúi xuống vừa cắt bom, vừa bắn rốc két bắn phá ác liệt xuống Làng
Sen và bất kỳ điểm nào chúng nghi là mục tiêu. Thì ra kẻ địch đã phát hiện ta đang
chuyển vũ khí đạn dược từ kho dự trữ cất dấu hàng quân sự H47 sơ tán đến một vài
địa điểm trong xã chuẩn bị vũ khí đầy đủ cho những trận chiến đấu tiếp. Cùng với
các đơn vị bộ đội phòng không, bộ đội địa phương, lực lượng dân quân, cán bộ và
nhân dân xã Nghĩa Đồng mà đông đảo là dân Làng Sen xông pha dưới làn mưa bom, bão
đạn của kẻ thù vừa đánh trả, vừa vận chuyển đưa hàng trăm tấn hàng quân sự đến
nơi an toàn. Tất nhiên không tránh khỏi những mất mát, đau thương. Trong bao cuộc
ném bom oanh tạc của máy bay Mỹ, bao trận chiến đánh trả của quân dân ta suốt gần
hai năm nay, không ít những chiến sĩ bộ đội, quân dân tự vệ, công nhân bến phà đã
hi sinh và cả những người dân lam lũ trên đồng ruộng cũng đã đổ bao xương máu,
ngã xuống bởi đạn bom thù...
Những chùm bom như những con én đang bay ngang bỗng chúi xuống lao vun vút
xuống bến phà, phía trận địa pháo phòng không. Tiếng nổ của bom đạn, tiếng rít điên
loạn của động cơ phản lực, của những thần sấm, con ma gầm rú. Hai bên đường mới,
dọc dòng sông đầu trốc Vực nghi ngút khói bom. Bỗng một tiếng hô vang, giọng điệu
reo vui:
- Bắn trúng rồi, máy bay địch cháy... một chiếc F4 bị thương, lửa, khói phun phía
sau đuôi nó. Nó đã quay hướng qua Nại Sen Đồng vào Gia Lợn Động Dài rồi quay
ngoặt qua đỉnh núi Mảng Cù lao nhanh về hướng Đông ra biển .
Máy bay địch bay xa, cùng lúc còi loa ở
đài quan sát, kẻng trực chiến của dân quân báo yên. Mọi người đứng lên miệng hầm, trên mô đất mép
giao thông hào đang nhìn những cột khói tỏa rộng, ngút cao đang dần tan và vệt
khói của chiếc máy bay bị thương mờ dần, mờ dần rồi biến mất . Bên kia sông từ đồng
Soi, Hác Ráng, Bãi Đào những người chăn trâu đang lùa trâu qua sông, hầu hết
qua động Bến Xâu Lươn và Hủng Mưng. Chỉ một số ít thường chăn dắt cho trâu ăn ở
Bãi Đào trên gần Trốc Vực và thường quen cho trâu về qua động Bến Phà. Bởi lâu
nay theo quy luật thường sau trận ném bom, bắn phá ác liệt phải dăm ba tiếng đồng hồ có khi hơn chúng mới quay lại. Hôm nay lại
khác, kẻ địch địch thay đổi chiến lược, sau còi báo yên khoảng 15, 20 phút, số
người lùa trâu qua bến Phà mới ra đến bãi Rì Rì trên bãi cát giáp mép sông bỗng
máy bay địch lại lao đến ném bom có thể nó đã phát hiện mục tiêu mà chưa bắn phá
được hoặc quay lại kịp trả thù cho chiếc máy bay bị thương chăng? Bầy trâu đen
có, bạc (trắng) có nhốn nháo chạy, chạy toán loạn. Một chiếc phản lực lao chúi
xuống cắt bom bay rà thấp gần như sát đỉnh Cồn Đền. Một chùm bom rơi xuống hầu
hết rơi vào lèn đá nơi có con lạch sâu vào đất liền bắc cầu phà cho xe lên xuống
đường, phà. Một quả bom không hiểu mới rơi xuống hay loại bom từ trường, nổ chậm
phát nổ tại bãi cát nơi bầy trâu vừa chạy qua hất tung một số người. Trong đó có
một cụ già 70 tuổi, một thanh niên và một cô bé 10 tuổi. Đó là ông Miên Duốn nhà
ở Nam Giang mới chuyển qua Hoa Bắc, bị
bom phạt người nằm vắt qua mô đất dưới cây giưới, một chân bị cắt văng gác trên
cành cây giưới cách người 3 mét, máu me tung tóe đỏ bầm một vùng cỏ dăm ba mét
vuông. Khi chúng tôi đến nơi ông đã tắt thở. Đó là Võ Duy Thạch ở xóm Hoa Bắc,
chết nằm gần hố bom, đứt ngang bụng toàn bộ nội tạng đều tuồn ra ngoài, khi đưa
xác vào quan tài tôi và Trần Đình Hán phải dùng tay bốc ruột cho vào bụng, anh
Phạm Văn Chu phải sắp xếp tim, gan, phổi, cật, ruột theo thứ tự. Tất nhiên có
loại bị dập nát, mất mát không thể đầy đủ được, thật là đáng thương, thật là rùng
rợn. Đó là em Trần Thị Lợi, con gái ông Trần Chắt Tiếu ở xóm Nam Tiến, rất may
cho em chỉ bị hai vết thương nhẹ, phần mềm. Một bị mảnh bom cắt một miếng thịt ở
bả vai, một miếng bắp chân phải. Em bị ngất không phải vì vết thương máu ra nhiều
mà vì quá sợ hãi. Băng bó tiêm xuống xong em tỉnh, vài ba hôm là vết thương lành trở lại bình thường. Đây cũng
là một ngày không thể nào quên của chúng tôi và nhất là bọn trẻ chăn trâu. Bọn
chúng quá “khiếp vía”, từ nay không dám chăn trâu Trốc Vực, bãi Đào Trên và lùa
trâu về động Bến Phà nữa và khi có máy bay không chủ quan khinh thường như trước
và đều tránh lách vào hầm hào, gò đất, gốc cây
tiện nơi nào kín đáo.
Được mệnh lệnh qua chỉ thị của thường vụ Đảng ủy xã, BCH Quân sự mà anh
Võ Duy Mậu trực tiếp truyền đạt cử một số
dân quân là thanh niên khỏe mạnh, hăng hái, dũng cảm vượt sông đưa các nạn nhân
về. Chúng tôi là học sinh trong dịp nghỉ hè, có số đã tốt nghiệp cấp ba đang
trong thời gian chờ đợi đi đại học trong và ngoài nước cùng tham gia công tác hè
ở địa phương. Chưa là dân quân thực sự, không ai bảo ai đều xung phong cùng tổ
dân mà anh tôi Phạm Văn Chu, chủ nhiệm
HTX Hoa Bắc chỉ huy, dẫn đầu chạy ngay xuống bến Phà lội qua bên kia sông
làm nhiệm vụ khẩn cấp.
Rất may là sau khi chúng tôi đưa thi thể các nạn nhân về đến nhà, địa điểm
làm lễ mai táng máy bay địch mới quay trở lại.
Tối đó, tôi không ăn cơm, cứ bưng bát cơm
lên là nôn, là sợ, đêm cũng không sao ngủ được. Hình ảnh anh bạn Duy Thạch - cùng
xóm, gần nhà xa ngõ mới hôm qua cùng đi làm phân xanh với các xã viên HTX, tối
cùng tham gia sinh hoạt chi đoàn
thanh niên vui đùa, ca hát cứ chập chờn,
lởn vởn trước mặt tôi. Một con người với vóc dáng thanh thanh, trắng trẻo, gương
mặt chữ điền, phúc hậu, mắt sáng, lông mày rậm, trông khá bảnh trai,lúc này cứ
bám sát tôi, đứng chặn trước mặt tôi, đôi mắt mở to, nhìn trân trân, ruột gan
tuôn ra khỏi bụng. Tôi quá hoảng sợ, la
hét, chạy...Lòng ruột cứ quấn chặt vào chân... Tôi nằm mơ thiếp đi giấc ngủ chập chờn, lại mơ thấy...Một giấc mơ
đáng sợ.
Trời rạng sáng. Mây mù, khói bom quện lấy nhau bồng bềnh như bọt sóng trên
dòng sông Sen, mỗi khúc lửng lơ trôi
khi đổi dòng va vào thành đá ghênh
bọt tung tóe trắng xóa ... Cánh rừng già Cồn Vè, Cheo Meo, Gia Lợn ôm lấy chân
núi đá ghềnh Vực Lồ bao quanh Cồn Đền, bãi Cải Tạo, Trốc Vực, Đầu Đập bị bon tàn phá sâu
những hố bom, trơ những gốc cây. Những thân cây cổ thụ: Dổi, lim, thị, sú, săng
lẻ bị phạt ngang, chẻ đôi, xơ xác, chưa chịu đổ đứng sừng sững như để đất trời
chứng kiến, đang thách thức với thời gian bom đạn. Vách đá dưới chân đền bên dòng
chảy của khúc sông bị nham nhở những vết thương, đá tảng bung ra rạn nứt .Những
mảnh bom như những lưỡi búa bổ vào thành đá bới tung những bụi cây rễ cây bám vào
đá, lâu nay sống nhờ vào đá ... như một dấu chấm đen điểm trên bức tranh thiên
nhiên. Đó là một trọng điểm của máy bay, bọn giặc lái Mỹ.
Khẩu đội 12ly7 nghi bị lộ mục tiêu, lệnh cấp trên chuyển lên quả đồi khu
vực phía trên Trốc Đập, dốc Cồn Vè đón chặn máy bay địch, bảo vệ khu vực bến Phà
và tuyến đường mới 15B.
Từ
trên đỉnh núi Cồn Vè nhìn xuống, phóng tầm mắt lướt qua cánh đồng Bắn, đồng Vòng,
ngược lên Trốc Vực xuống Bãi Đào, Hác Ráng, đồng Soi ... như một tấm thảm đủ sắc
màu. Những bãi ngô đã thu hoạch còn trơ lại bẹ (vỏ bắp) ôm lấy thân cây đã trắng
khô xen lẫn là những thửa ngô chưa thu hoạch vàng óng trong những đám cỏ săng,
cỏ lô ác đang xanh. Rải rác những hố bom khoét sâu, nông cạn vành quanh là những
đụn đất, cát đỏ vàng loang lổ khắp hai cánh đồng Bãi Đào, Hác Ráng trên. Đỉnh núi
Cồn Đền vươn cao, oai nghiêm, phong độ, bề thế như một nhân chứng lịch sử, một điểm
tựa vững chắc bao che cho những chuyến phà khi trọng tải hàng hóa qua sông.
ẨM THỰC LÀNG SEN
Nói đến ẩm thực làng Sen có nhiều thứ khá phong phú. Ở đây tôi chỉ nói
đến hai món ăn tiêu biểu có nhiều kỉ niệm ấn tượng sâu sắc với tôi đó là Ngô và
Măng
*
* *
Ngô- đặc sản quê tôi.
Làng Sen từ xưa đã có thứ lương thực
chính là ngô. Bởi thế hầu heetgs diện tích đất trồng màu đều trồng trỉa ngô có
thể nói cánh đồng ngô trải dài bao quanh làng xã. Hai bên bờ sông Sen là những
bãi ngô xanh tốt, vàng óng. Ngô Bãi Giang, ngô Đồng Bàu, ngô Bãi Đào, ngô Hác
Ráng, ngô Đồng Soi, ngô Đồi Bãi, ngô Trốc Vực, ngô Xâu Lươn, ngô Cổ Kiềng, ngô
Hủng Mưng, ngô Đồng Thang, ngô Bãi Sải, ngô Vực Vàng, ngô Bãi đá ( Sau này
thuộc địa phận xã Nghĩa Thái)
Chả thế mà khi mùa ngô đến, lúc giáp hạt, thiếu ăn dân dưới xuôi, đủ các
huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương, Thanh Chương thường lên Sen
mót ngô, mua ngô hoặc đưa các loại hải sản như Cá Tôm, cua Mực, nước mắm lên
đổi ngô
Trước đây Làng Sen Nghĩa Đồng quê tôi chỉ có những nhà khá giả, giàu có
mới có gạo ăn ( tất nhiên vẫn độn ngô) còn nhà nghèo chỉ có ngô khoai ( có
chăng một hạt gạo độn hàng trăm hạt ngô)
Các bậc cao niên trong làng kể lại: ;Có nhiều gia đinhg cố nông quá
nghèo đói suốt đời lam lũ cực nhọc quanh năm “đầu tắt mặt tối”, “ bán mặt cho
đất bán lưng cho trời” cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Bữa ăn thường ngày chỉ
có ngô vẫn không đủ no. Tuy thế ăn mãi vẫn chán, cho nên ngô được chế biến đủ
mọi cách.
Có nhiều loại ngô, ngô tẻ hạt vàng, ngô tẻ hạt trắng, ngô tẻ hạt to (
ngô răng Ngựa), ngô nếp ( báp nhỏ hơn ngô tẻ, dẻo thơm, có khi pha hạt tim tím)
Ngô được ăn từ khi còn non( đang ngậm sữa) đến lúc ngô già phơi khô cất
giành (có thể để cả bắp buộc thành chùm treo lên, hoặc đập, phẻ thành hạt cho
vào chum, bồ, đậy kín)
-
Ngô non (vừa luộc) vừa lấy về còn tươi
+ Ngô luộc(để cả vỏ
hoặc bóc vỏ khi hạt ngô đã to hơi cứng) đơn giản và thông dụng nhất
+ Ngô siết (cháo
ngô) dùng dao nhỏ lưỡi mỏng sắc thái dọc bắp cắt ngang hạt đến sát cùi. Đun sôi
kỹ cho muối gia vị vào. Thích ngọt cho đường, mật (gọi chè ngô. Nếu có đậu, lạc
hoặc hạt Sen vào càng tốt. Ngày ấy những gia đình nghèo khổ làm gì có các loại
này) món này rất bổ dưỡng
-
Ngô vừa nướng (không non, không già đã lột vỏ) được chế
biến:
+ Ngô nướng: Bóc vỏ
cho vào than ( không để sát than dễ bị cháy sém). Ngày nay thường để ngô trên
vỉ sắt đăth trên than hồng nhưng ngày ấy làm gì có vỉ sắt, thường đặt trên tro
nóng trước bếp có củi than đang cháy xoay trở liên tục, khi ngô chín vàng cánh
gián là được
+ Ngô sấy ( ngô hấp)
khở vày ra hạt luộc vừa chín tới đem phơi khô cho vào chum vại khi ăn rang lên,
ăn giòn thơm bùi hấp dẫn ( hoặc giã nhỏ trộn đường mật giống chè lam làm bằng
bột nếp) thứ ngô sấy này làm lương thực khô cho ngày ba tháng tám giáp hạt
+ Ngô hầm: Để nguyên
hạt cho vào nồi nước đun chín khi hạt ngô mềm nở toe là được ( ngon hơn khi có
đậu lạc cho vào)
-
Ngô già (Hạt ngô không còn sữa, đã cứng, phơi khô). Loại
ngô này được chế biến nhiều món ăn thông dụng hơn
+ Ngô hầm tro (hay còn gọi là ngô bung)
chủ yếu là ngô nếp. Cho ngô vào nồi đầy nước, một ít tro bếp pha thêm ít nước
vôi trong (nước vôi đã lắng) – tùy theo lượng ngô nhiều hay ít mà pha chế tỷ lệ
thích hợp. Đun sôi chín và cho vào rổ rá, đãi kỹ cho sạch nuwowca tro và vôi,
cho rụng hết mày (chân hạt ngô nơi cắm vào cùi). Rửa sạch để ráo nước, cho vào
nồi đổ nước vào đun kỹ, cho đậu, lạc vào khi nào hạt ngô nở to bung ra là được-
thứ này gọi là xôi bắp.
+ Ngô hầm (còn gọi là ngô nục) : Ngô
sau khi giã, xay lấy loại to nhất (nằm trên sàng) cho vào nồi đổ nhiều nước đun
sôi kỹ cho đậu, lạc, đun nhỏ lửa, chín nhừ nêm muối vừa ăn.
+ Ngô ỏm ( loại lọt sàng đem dần nằm
trên dần) Hơi lỡ cỡ nếu hầm hạt quá nhỏ, để thế độn gạo lại quá to, khi nấu hạt
gạo chín ngô chưa chín nên trước khi nấu cơm cho ngô vào nồi đun chín. Khi hạt
ngô vừa chín đem đổ ra rá vo kỹ bằng nước lạnh (rửa), sau dod độn vào gạo nấu
thành cơm -> Cơm ngô.
+ Ngô tấm (ngô nhỏ): Loại ngô khi sàng,
dần (lọt dưới dần) độn trực tiếp với gạo nấu cơm bình thường -> cơm ngô.
+ Ngô tấm (ngô nhỏ) : Loại ngô khi
sàng,dần (lọt dưới dần) độn trực tiếp với gạo nấu cơm bình thường -> cơm
ngô.
+ Cháo bột ngô: Loại bột mịn. Khi dần
sàng xong đem rây (loại lưới nhỏ). Đun nước sôi cho bột vào quấy đều (như nấu
hồ bột gạo)- Phải nhỏ lửa, quấy đều tay, lien tục, nếu không sẽ dính nồi, bị
khê (cháy), cho vào ít muối vừa ăn. Chín cho vào bát. Nếu loãng gọi cháo bột
ngô (hồ bột ngô) – Đặc có thể lấy dao cắt được gọi “Bánh đúc ngô” - Nếu muốn ăn ngọt cho đường
hoặc mật mía thành “chè ngô”. Dù loại nào, ăn kiểu gì cũng phải thêm tí muối mới
đậm đà, dễ ăn, ngon miệng hơn.
Nhiều món ăn như vậy, nhưng thời trước cơm độn
ngô và nhất là ngô hầm đã quá quen thuộc, bữa ăn thường nhật của dân quê tôi (
như đã nói ở phần trên)
*
*
*
Tuổi thơ tôi có biết bao kỷ niệm về ngô
- nhất là các món ăn dân dã và quen
thuộc như trên. Nhưng ấn tượng nhất, khắc sâu nhất là ngô hầm tro – “xôi bắp”.
Bởi đây là món ăn thích nhất, có nhiều kỷ niệm nhất đối với tôi.
- Xôi bắp: Món điểm
tâm, ăn sáng bình dân quen thuộc bây giờ, nhưng ngày trước là món ăn xa xỉ,
hiếm có ở quê tôi. Bởi thời đó ngô cũng chỉ được dùng cho bữa ăn chính là ngô
hầm, khá giả có đôi bữa cơm độn ngô, làm gì có ăn sáng! Nói là cơm ngô nhưng
thực ra một hạt gạo cõng hàng trăm hạt ngô (đã giã nhỏ) Nhà khá giả, giàu có,
địa chủ mới có nhiều gạo – ngược lại với bây giờ: khá giả mới mua được ngô, mới
có ngô ăn.
Thời đi
học, đến khi lên cấp 3 học ở thị trấn Thái Hòa – Nghĩa Đàn tôi mới được ăn sáng
bằng xôi bắp – Nhà nghèo, lại đi học xa không đủ tiền ăn bát phở (3 hào), bánh
mì sốt vang hoặc cốc sữa bánh mì (2 hào), trong khi mẹ chỉ cho mỗi buổi sáng
một hào ( Hai bữa ăn chính đã có lương thực và thức ăn mang theo ( muối vừng,
măng muối mặn, ít tép riu...). 1 hào được một bát con (loại bát dùng ăn cơm nhỏ
nhất) xôi bắp. Tuy ít nhưng vừa tiền với lại tôi cũng thích, nhất lại chắc dạ
hơn có thể no đến tận trưa, ngồi học được cả buổi.
Mỗi buổi sáng khi tập thể dục, vệ sinh cá nhân
đánh răng, rửa mặt xong, tranh thủ ôn lại bài là nghe thấy các bà cô hàng quà
sáng điểm tâm quảy gánh bán rong “ai xôi bắp” là gọi vào (hoặc nếu muộn ra các
vỉ hè). Xôi đang trong nồi hoặc đựng trong thúng, mủng, rổ, rá bằng tre, dưới
đáy có lót lá chuối tươi. Thường đậu xanh nấu chín giã nhỏ để riêng, khi nào ai
mua cho vào bát mới cho đậu vào thêm ít hành khô phi mỡ vào trộn đều. Nếu chỉ
có lạc, đậu đen, đậu đa (loại đậu hạt to hơn đậu tằm) đã sẵn trong ngô.
Có thể nói đây là món ăn khoái khẩu, hợp khẩu
vị của tôi. Vì tôi sinh ra đã được ăn ngô, ngô đã nuôi tôi lớn lên, trưởng
thành...
Nay thỉnh thoảng về quê, các cháu con anh cả,
chị đầu biết ý tôi thích ăn ngô; xem chừng ngoài đồng còn ngô (nếu non bẻ về
luộc, hơi già nướng, rang) hoặc lấy ngô già đãphơikhô, cất giành ăn dần đem ra
nấu, nhất là ngô nếp thêm đậu, lạc, ít gạo nếp...thành xôi bắp đãi người xa quê
lâu ngày về...
* *
*
Nếu ngô là thứ lương thực đặc trưng thì măng
là thức ăn đặc sản.
Măng: món ăn dân dã, đặc sản quê tôi. Đượm nét
đẹp văn hóa ẩm thực, đáng trân trọng, mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Coa nhiều loại măng: Măng tre, măng giang,
măng nứa, măng mét, măng đắng – Mùa măng, món ăn thường nhật trong gia đình.
Nhiều món ăn được chế biến từ măng
-
Măng luộc: Các loại măng đều luộc và chấm ruốc (mắm tôm)
là món ăn dân dã, phổ biến có sức hấp dẫn
Chọn loại mậm (bắp) măng mới nhú khỏi mặt đất khoảng vài ba phân là tốt
nhất bởi còn non mềm và ngọt, nếu măng cao hơn chỉ lấy phần ngọn còn phần gốc
đem cắt muối.
Măng còn tươi non bóc bẹ (vỏ ngoài), thái mỏng
phần gốc, phần ngọn chẻ dọc (nếu là măng giang, măng đắng), măng nứa có thể để
nguyên búp luộc xong khi ăn chẻ nhỏ cũng được vì loại măng nứa mỏng.
Riêng măng tre, măng mét phần gốc đặc có thể
cắt dày để muối, phần ngọn dùng dao mỏng, sắc băm dọc búp và thái dọc thành sợi
dài. Tùy loại búp măng mà thái, chẻ to nhỏ cho thích hợp. Đem luộc cho nước sôi
lút măng, khi măng chín vàng không còn mùi hăng (dạng còn sống) là được. Vớt
măng cho vào rổ, rá để ráo nước.
Măng luộc dùng không hết có thể ngâm nước lã
cho ít muối có thể dùng lâu hơn nhưng chỉ để xào, nấu còn muốn ăn luộc tiếp
phải luộc lại, nhưng không ngon vì đã có vị chua.
- Măng luộc xào: Xào mỡ, xào với các loại lòng gia cầm, súc vật: gà,vịt,
ngan, ngỗng, lợn, trâu, bò. (bình dân, quen thuộc, phổ biến).
- Măng luộc nấu kho cá biển: Dân gian có câu : “ Cá đồng nấu khế, cá bể
nấu măng” ( đơn giản, dân giã) cho măng và cá vào nồi đổ nước vừa phải thêm mắm
muối đun sôi kỹ ( ngon hơn loại nào cũng vậy cho thêm tí ruốc hôi khi chưa đun
nóng miếng măng sẽ ngọt đậm đà hơn).
- Măng chua (chủ yếu măng tre, măng mét)
Phần gốc thái mỏng ( loại ống già) phần ngọn
dùng dao băm dọc thái dọc đem ngâm nước vài ba ngày là được.
Thành phẩm màu trắng, vị chua thích hợp với
món thịt vịt (hoặc cò đồng), cá tượi, lòng bò. Mùa hè có món măng chua nấu với
các loại này thì thật là thú vị.
-
Canh súp măng (măng giang, măng nứa) : Lấy phần ngọn non,
thái mỏng (thái ngang thành sợi) ngâm nước khoảng vài ba tiếng đồng hồ, vớt ra
để ráo nước, đun sôi, chín cho bột gạo (đã đâm xay, giã nhỏ) vào nấu chín cho
gia vị mắm muối vào gọi là món “canh bồi” quê tôi.
-
Măng muối: Măng muối mặn là món ăn thường ngày của tuổi
thơ tôi, quê tôi. Mẹ tôi là người đi lấy măng rừng nhiều nhất, lâu năm nhất.
Lấy măng đã thành nghề của mẹ cũng là nguồn thu nhaaph chính của gia đình tôi
thời đó. Mỗi lần đi rừng lấy măng về là rất nhiều người đến mua. Vì măng mẹ lấy
tượi non, giá cả phải chăng, người th ân quen còn cho thêm. Mẹ đi rừng lấy măng
giỏi về chế biến cũng không thua kém ai. Từ măng luộc, măng chua đến măng muối
mặn đều có cách làm tốt.
-
Chế biến loại măng này cũng không khó lắm. Búp măng cũng
không phải chọn cầu kỳ như măng luộc, miễn là măng còn mềm, dao thái được và
gần như chỉ phần gốc, ống và cũng chỉ thích hợp với măng giang, tre, mét. (chủ
yếu măng giang)
Măng lấy về, phần ngọn luộc, phần gốc thái vừa
phải. Loại gốc, ống cắt khoảng vài ba phân (nếu ống to chẻ đôi, chẻ ba...) rửa
sạch để ráo nước cho muối vào theo tỉ lệ, đảo đều.
Ngô già đã khô khén đem rang chín (không để
ngô cháy) xay hoặc giã nhỏ, gọi là thính. Khi cho măng vào lon, vại (măng đã
ướp muối) trộn thính vào ( một lớp măng rắc một lớp thính). Có thể cho vài quả
ớt tươi, ướp khoảng 10,15 ngày là ăn
được. Khi nấu măng nếu có cá tươi, cá tép, tôm lẫn vào càng tốt. Măng muối để
lâu càng ngon, càng đậm đà hấp dẫn.
Mùi măng đặc trưng: Hăng hăng mùi măng, thơm
thơm thính bột ngô rang, mặn mặn cay cay vì mắm muối, ớt khi ăn nếu có rau lộc
mưng (lộc vừng), rau mét mà cặp, chấm nước măng thì tuyệt.
Nay lâu lâu về quê, chị dâu và các cháu cũng
thường nấu bát canh măng, nhất là món măng muối mặn. Bưng bát cơm, ăn miếng
măng muối mặn nhớ lại những dấu ấn trong tâm khảm của mình. Ăn miếng măng dù
mặn nhưng lại cảm thấy ngon miệng hơn, ăn được nhiều cơm hơn và cảm nhận ngon
hơn cả miếng thịt lợn luộc, thịt lợn kho tàu loại lợn đại bạch nuôi bằng cám
tăng trọng.
Và dường như không phải chỉ ăn miếng măng
mặn đặc sản quê nhà mà còn được thưởng thức cả ký ức tuổi thơ đối nghèo nhưng
ấm cúng, đậm đà hương vị quê hương.
Chương II
Làng
( Những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập
kỷ 90 của thế kỷ trước)
Nói là làng nhưng không có nhà, không vườn
tược, tường rào che chắn mà từ đầu làng đến cuối làng chỉ còn dấu tích ngôi đình
sen bề thế xưa nằm đơn độc giữa cánh đồng mênh mông và rải rác những đống gạch đá,
ngói nát của những nhà xây cấp bốn còn vương vãi chưa chuyển hết...Đâu còn những
con đường hẻm liên gia, những con đường phân cách, giáp ranh giữa các xóm Thượng
Thắng, Xuân Liên, Hồng Yên, Đông Giang, Đại Giang, Hoa Bắc, Nam Giang, Tây Tiến,
Liên Khê...Đâu còn những bàu, ao, bờ tre, những hàng cây, bụi chuối, những mảnh
vườn, những ngôi nhà lợp ngói, sân gạch, xen lẫn những mái nhà tranh vách đất...Đây
đó chỉ còn lại một giải đất kéo dài từ Cồn ngô qua Bãi Giang, xuống Đội Bãi qua
Lòi- Vực Lồ nằm ép mình khiêm nhường hai bên đường quốc lộ 15, xưa dân quê tôi
gọi là đường cái quan và phía Đông vẫn con sông Con ép dần làng về phía Tây, sát
kề bên là những bãi cát, những cánh đồng phù sa màu mỡ...
Chiến tranh, tránh sự oanh tạc của máy bay giặc
Mỹ, một số xóm gần trọng điểm thường xuyên bị ném bom của kẻ thù phải đi sơ tán,
sự lở dần phần đất các xóm ven sông và nhân dịp có phong trào “Nông nghiệp lên đường
lớn”, “ Sắp xếp lại giang sơn” làng Sen- chuyển dời lên Eo Đế. Một số hộ gia đình
hầu hết dân Nam Tiến, Liên Khê chuyển qua khu vực C.T.3 (khu vực trại giam số 3
của bộ công an) bên Cồn Đền, Trốc Đập, Hóc bà Nghiện giáp giới Nghĩa Hợp...
Những thửa đất mấy năm trước đây còn nổi lên những đống gạch đá, ngói vỡ
chồng chất, những thân cây đã đốn còn trơ gốc, những mảnh vườn cỏ mọc um tùm
nay đã đổi thay. Toàn xã Nghĩa Đồng nói chung, làng Sen nói riêng đã thực hiện
kế hoạch sắp xếp, ngăn bờ vùng , bờ thửa để vừa có ruộng lúa nước, vừa có đất
trồng màu mà chủ yếu là các thứ đặc sản: Ngô, khoai, đậu, lạc,vừng... Nay đứng ở
đầu làng (Cồn Ngô). Tại cổng chào “Làng Sen mới” nhìn ra xa, phóng tầm mắt xuôi
về phía Nam ,
né qua phía Tây một màu xanh mướt là những thửa ruộng lúa, là những bãi ngô xen
lẫn là những dãy vồng khoai, luống đậu,
lạc... trông thật mát mắt...Tôi thuộc thế hệ những người con sinh ra, lớn lên từ
nơi đây, đi học, trưởng thành, thoát ly. Nay về thăm lại cảnh làng quê, thấy quê
mình đổi thay quá nhiều theo chiều tiến triển đi lên, lại được nghe giọng nói dịu
hiền ấm áp, tiếng hát ngọt ngào, trìu mến thân thương của những người thân càng
thêm yêu thương gắn bó...
Cái háo hức, cái ước mơ, cái ước vọng và hoài bão của tuổi trẻ muốn được
góp sức mình cho quê hương đã thôi thúc tôi, dục giã tôi từ lâu và trở thành hiện
thực khi đã thưởng thành: Viết về quê hương.
Nơi đây, tuổi thơ tôi gắn với bao kỷ niệm và với những biến cố dữ dội của
thời cuộc, với những trang sử vẻ vang của dân tộc. Đó là nạn đói khủng khiếp năm
1945, là cuộc cách mạng Tháng Tám hào hùng dữ dội thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa ra đời. Đó là 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược được kết thúc
bằng chiến thắng Điện Biên lịch sử “ Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Rồi
cuộc cải cách ruộng đất chia lại ruộng cày cho dân nghèo, công cuộc xây dựng
CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà...
Trước hết tôi nói về nạn đói năm 1945. Năm đó đã đi vào lịch sử, đã ghi
trong sử sách. Năm Ất Dậu, miền Bắc mất mùa, thóc gạo Nhật vơ vét sạch. Tại mảnh
đất này tôi được nghe kể và cũng là nạn nhân nỗi đau khổ đói nghèo của gia đình,
của xóm làng, chứng kiến nạn đói khủng khiếp đó.
Mẹ tôi kể những ngày tháng sinh tôi ra là những ngày đói nhất, đói chưa
từng thấy. Đó là những ngày đầu năm Ât Dậu còn khoét sâu những nỗi đau sợ hãi,
cái đói làm chết hàng triệu người. Cái đói diệt người đầy ghê rợn và thê thảm đó
cứ tiếp diễn trên những miền quê bé nhỏ, đói nghèo. Các gia đình đã nghèo khổ lại
càng nghèo khổ hơn, tất cả đều lâm vào cảnh đói rét, chết chóc. Không còn gì để
ăn, mọi người phải đi đào củ mài, củ nâu, lấy măng, hái rau má, rau tàu bay, rồi
mò cua bắt ốc và bất cứ thứ gì, củ gì, lá gì ăn được cầm hơi để qua ngày, đoạn
tháng...Cuộc sống cùng quẫn, túng thiếu, cái đói rình rập, dày vò,đe dọa mọi
gia đình, mọi con người. Cái đói gay gắt, kéo dài lê thê, chết chóc ngày một
nhiều hơn, thê thảm, rùng rợn hơn...Nghe đâu nhiều nơi, nhất là ngoài Bắc có những
gia đình chết không còn một ai. Người chết quá nhiều không có người đưa đi chôn
nằm rải rác ngổn ngang bên vệ đường, xó chợ. kẻ sống thoi thóp, người chết nằm
kề bên nhau la liệt, chồng chất. Riêng gia đình tôi lại thêm một nỗi khổ hơn mọi
gia đình bởi mới dưới xuôi lên không nhà cửa, không một tấc đất phải đi ở đỡ. Bố
lại đi hoạt động cách mạng nằm vùng bên Làng Ga, có khi lên cả vùng Đồng Đải,
Nghĩa Khánh, ít khi về.
Những ngày mẹ ở cự, không có gì để ăn, bố đi hoạt động kiếm được thứ gì
hoặc ai cho gì ( khi mớ khoai, bắp ngô, khi nắm rau lang, rau má, lúc con cá
con tôm...) mẹ để giành cho anh chị tôi phần nhiều ( anh lúc đó 7 tuổi, chị 10
tuổi). Mẹ chỉ ăn chút ít cầm hơi và có tí sữa cho tôi bú. Tôi lớn lên bằng những
giọt sữa chắt chiu, gạn lọc từ những bắp ngô non, củ khoai chạc, nắm rau má, rá
rau lang, búp măng non, búp chuối rừng, và cứ thế tôi lớn lên, cái đói nghèo vẫn
đeo đẳng, giai dẳng. Tôi không quên những gì anh chị tôi kể lại kỷ niệm của tuổi
thơ hai người với bạn bè cùng trang lứa rong ruổi, lặn lội, chui rúc trong các đám
cỏ săng, lau lách, trong các lùm cây bớp bớp ( cây so đũa) trên khắp các cánh đồng
Vòng, Đồng Bắn, Trốc Đập, Da lợn, Động Dài, Bụi Hóp hái rau má, rau tàu bay, lượm
quả gắm, quả sung, quả dâu da, quả sông, quả khế về ăn hay lặn lội, hụp sâu dưới
các ao hồ, suối lạch để bắt con trai, con ốc, con cá, con tôm để nấu canh, nấu
dấm cho có chút pơ rô tit nuôi sống qua ngày. và những ngày đi mót những mẩu
khoai, bắp ngô dưới nắng hè rát mặt để có chút hồ tinh bột cầm hơi.
Những ngày tháng năm ấy (và cả những năm tiếp đó) thường xong cái tết
nguyên đán qua giêng hai đến “ ngày ba tháng tám” giáp hạt, dân làng Sen quê tôi
và các làng lân cận như làng Sẻ, làng Ga, làng Giang, Bãi Đá, Đồng Nồi, Cồn Dổi
đều gặp cảnh bữa no, bữa đói, rau cháo qua ngày. Dân làng kiệt quệ lại thêm nhiều
dịch bệnh. Bọn nhà giàu (Địa chủ, phú nông) “nhờ gió bẻ măng” cho vay nặng lãi,
bóc lột thậm tệ. Lại nạn kẻ cắp, kẻ trộm hoành hành. Nay nhà này mất cái này,
mai nhà khác mất cái kia, khi mủng thóc mới vay về chưa kịp xay, khi thúng ngô
chưa kịp giã, lúc con gà đang vừa nhảy ổ...Trớ trêu thay đêm 30 tết nồi bánh chưng,
bánh tét (chủ yếu là sắn, gạo nếp quá ít gọi là) đang sôi trên bếp cũng bị kẻ
trộm bưng luôn. Nghĩ lại mà xót xa, mà đau khổ, mà tủi hờn, mà căm giận. Ngày
tháng thời gian này mọi người, mọi nhà lầm lũi đi xa kiếm sống. Nếu ai chưa từng
sống trong cảnh đói năm ất Dậu 1945, chưa từng bị cái đói năm giáp ngọ 1954 ở
miền bắc nước ta thì thật là hạnh phúc.
Đầu năm 1945, trên toàn cõi Đông Dương nói chung, đất nước Việt Nam nói riêng
chiến tranh thế giới thứ hai ngày càng lan rộng, dồn dập. Ngày kết thúc Nhật đảo
chính Pháp, nhưng lại đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, phe Đồng Minh thắng lợi.
Phong trào GPDT phát triển mạnh mẽ khắp nơi. Điều kiện thuận lợi đó, nhân dân
ta, đồng bào cả nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng CSĐD và chủ tịch Hồ Chí Minh
vĩ đại đã đứng lên làm cuộc CMDCND vĩ đại, đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ
thực dân, đế quốc, phát xít tay sai, giành lại chính quyền về tay nhân dân. Tại
Làng Sen, từ khi xuất hiện các ban Việt Minh, đội tự vệ đỏ đã tạo thêm sức mạnh
cho cuộc khởi nghĩa và nhất là từ sau ngày ủy ban lâm thời Nghĩa Đồng- Nghĩa Đàn
được thành lập đã lãnh đạo nhân dân Làng Sen nói riêng, Nghĩa Đồng nói chung tập
trung mít tinh tại Đình Sen tuyên bố xóa bỏ chính quyền chuyên chế cũ, thành lập
chính quyền cách mạng, khởi nghĩa thắng lợi. Cách mạng Tháng Tám thành công. Mùa
thu cách mạng 1945 đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta. Đất nước bước sang
trang mới, thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, phong kiến. Như mọi làng quê khắp
trong cả nước, làng Sen quê tôi đã được thay da đổi thịt, người dân dạt dào niềm
vui sướng phấn khởi, quyết tâm giữ vững chính quyền cách mạng mới thành lập. Với
chúng tôi như một luồng gió mới, một luồng ánh sáng xua tan bóng tối trên con đường
cách mạng. Từ đây cuộc sống đói khổ lầm than, nạn đói khủng khiếp đã được cứu vớt,
làng Sen được đổi đời, người dân được làm chủ cuộc sống, làm chủ quê hương đất
nước mình...
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, dưới nắng vàng
mùa thu Hà Nội dàn trải, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” trước hàng vạn nhân dân
thủ đô Hà Nội, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời
nước VNDCCH, tuyên bố nước VNDCCH tự do, độc lập, khẳng định quyết tâm, biểu dương
lực lượng, sức mạnh và ý chí của dân tộc ta, của toàn quân, toàn dân ta chiến
thắng kẻ thù và quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do cho dân tộc.
Có thể nói “ Tuyên Ngôn Độc Lập” là một trang vẻ vang trong lịch sử Việt
Nam, trong muôn vàn trang sử vẻ vang khác, đã chấm dứt chính quyền dân chủ chuyên
chế và chế độ thực dân áp bức, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc, của
đất nước...Đây cũng chính là trí tuệ và bản lĩnh của chủ tịch Hồ Chí Minh. Người
đã thể hiện được khí phách của cả một dân tộc đang vùng dậy chống đế quốc, thực
dân, phong kiến, giành độc lập, tự do cho nước nhà. Với “Tuyên Ngôn Độc Lập” lần
đầu tiên nước Việt Nam hiện diện trên trường quốc tế với tư cách là một nước tự
do và độc lập và nhân dân thế giới cũng thấy được tinh thần, ý chí quyết tâm bảo
vệ nền tự do, độc lập của dân tộc. Cách mạng tháng tám và quốc khánh 2/9 còn khẳng
định chân lý mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ :
“ Không có gì quí hơn Độc lập, tự do”.
Nhưng rồi Độc lập, Tự do chưa được trọn vẹn, thực dân Pháp phản bội quay
lại nổ súng tấn công. Chiến tranh ngày càng lan rộng khắp trên đất nước và ngày
càng ác liệt. Trước tình hình đó, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cả “Đất nước đứng
lên”.
Cùng với quân dân cả nước, nhân dân làng Sen, đồng bào các dân tộc xã
Nghĩa Đồng quê tôi cũng nghe lời kêu gọi sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu. Trước mắt
củng cố lực lượng chính quyền còn non trẻ và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng
chiến trường kỳ sắp nổ ra trên mọi miền quê tổ quốc. Trên khắp các chặng đường,
ở mọi cổng làng, thôn xóm, nhà hội quán đâu đâu cũng băng cờ khẩu hiệu “ Tất cả
cho kháng chiến”, “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”...Cờ đỏ, sao vàng,
tung bay đỏ rực khắp nơi...
Các chiến sĩ bộ đội quân phục chỉnh tề, quân trang,quân dụng đầy đủ, vũ
khí trong tay sẵn sàng đợi lệnh. Các cán bộ Việt Minh, cán bộ kháng chiến quần áo,
mũ nón, dày dép, súng ống, vũ khí...những “vật bất ly thân” sẵn sàng tư thế...Các
tổ chức đoàn thể chính quyền mới được thành lập; theo sự phân công chỉ đạo của
cán bộ Việt Minh, cán bộ kháng chiến, mọi người dân quê tôi đều phấn khởi, vui
tươi trào dâng niềm hạnh phúc , niềm tin tuyệt đối vào cách mạng, vào kháng chiến
và kháng chiến thắng lợi...
Tôi còn nhớ lúc bấy giờ vào cuối năm 1953 đầu năm 1954, lúc cả nước đang
dốc toàn bộ nhân tài vật lực, lực lượng cho tiền tuyến để giành quyết định thắng
lợi ở khắp các chiến trường, nhất là cho chiến dịch Điện Biên phủ- lúc ấy tôi đang
học lớp abc,i,t,t,i ti “đại học chữ to” chuẩn bị lên lớp một. Chúng tôi chuyển
học ban đêm đến các lán trại, đền, đình, nhà dân...Máy bay địch hoạt động gần
như ngày nào cũng có, các loại máy bay “khu trục” “bà già” đêm thả pháo sáng
oanh tạc vùng trọng điểm chủ yếu bến phà, đường sá. Ban ngày ném bom, bắn ca nông
vanh...
Rồi, bỗng một ngày của tháng năm lịch sử 1954,
chúng tôi đang giờ ra chơi (lúc này tôi học lớp 1) thì được nhà trường báo tin
“giải phóng Điện Biên phủ” và hôm sau thì biết rõ hơn, cụ thể hơn. Chiều mồng 7
tháng 5 năm 1954 toàn quân và dân ta đã tổng tiến công và tiêu diệt hoàn toàn tập
đoàn cứ điểm Điện Biên phủ- một cứ điểm mà tướng giặc NaVa đã từng tuyên bố “bất
khả xâm phạm”, bắt sống tên tướng Đờ Cát và toàn bộ quân pháp tay cầm cờ trắng đầu
hàng. Chiến dịch Điện Biên phủ thắng lợi hoàn toàn. Tin được truyền đi như ánh
hào quang rực sáng khắp mọi làng quê. Từ đó cứ hôm nào đến trường, giờ ra chơi
giải trí đứng vòng cả lớp, có khi cả trường nắm tay nhau nhảy hát bài “yêu hòa
bình tổ quốc chúng ta”, “ Giải phóng Điện Biên bộ đội ta tiến quân trở về...” rộn
rã vui tươi, trầm hùng, khí thế...( những bài hát, điệu nhảy quen thuộc phổ biến
thời đó).
Có thể nói chiến thắng to lớn Đông xuân 1953-1954, nhất là chiến thắng lịch
sử Điện Biên phủ “ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã giáng một đòn quyết
định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến
tranh, đập tan “kế hoạch Na Va” buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Giơ-Ne-Vơ,
công nhận nước ta là một nước độc lập, tự do, có chủ quyền và hơn hai tháng
sau, ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Giơ-ne-Vơ chấm dứt chiến tranh, lập lại
hòa bình ở Việt nam và ba nước Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã sang trang sử vàng chói lọi, mở ra thời kỳ
lịch sử mới cho cách mạng, cho dân tộc Việt Nam . Đó là cuộc cách mạng xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, là cuộc đấu tranh với bọn đế quốc Mỹ và tay sai bán
nước ở miền Nam để giải phóng hoàn toàn miền Nam , thống nhất nước nhà. Đây c là cuộc
đấu tranh cũng không kém phần gay go, khó khăn, gian khổ...
Nhiệm vụ của chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc lúc này cực kỳ
quan trọng bởi những khó khăn, gay go, phức tạp do hậu quả chiến tranh. Toàn miền
bắc dấy lên phong trào thi đua cải tạo xây dựng xã hội chủ nghĩa, khôi phục phát
triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất đi đôi với giảm tô, tiến hành cải cách ruộng đất
ở nông thôn, cải tạo tư sản thành thị, làm cuộc cách mạng dân chủ nhân dân...
Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, Bác Hồ, toàn quân dân cả nước
lao vào công cuộc khôi phục kinh tế ở miền Bắc, cử cán bộ tham gia vào cuộc cải
cách ruộng đất, đánh đổ giai cấp địa chủ, cải tạo giai cấp tư sản. Nhiệm vụ của
đội cải cách là phải nắm vững chính sách giảm tô, nội dung từng bước của cuộc cải
cách ruộng đất mà Đảng và chính phủ đã đề ra và phải làm rõ cho người nông dân
xác định đối tượng đấu tranh của mình là kẻ thù nào, phương pháp phát động quần
chúng nhân dân đấu tranh đánh đổ giai cấp địa chủ.
Trước hết bắt giai cấp địa chủ phải thực hiện giảm tô, giảm tức, tiến hành
cải cách ruộng đất, vùng lên đấu tranh đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ, tịch
thu ruộng đất chia cho nông dân nghèo, thực hiện “người cày có ruộng” ...sau đó
hướng dẫn họ tổ chức các tổ đổi công (từ 10 – 15 gia đình) luôn đổi công cho
nhau- hôm nay gia đình này, mai gia đình khác- mỗi tổ cử tổ trưởng, tổ phó để
phân công điều hành công việc. Từ đó thiết lập các HTX nông nghiệp.
Cuộc cải cách ruộng đất (CCRĐ)
Đầu những năm 50 của thế kỷ trước (khoảng từ cuối 1953) Theo chủ trương
của Bác Hồ và Trung ương Đảng về “vấn đề nông dân và CCRĐ”, “Luật cải cách ruộng
đất” đã được quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua trong kỳ họp thứ
III, ngày 4 tháng 12 năm 1953 và ủy ban CCRĐ được nhanh chóng thành lập ở cả
hai cấp trung ương và địa phương. ở địa phương, các tỉnh lập ra nhiều đoàn (tùy
theo địa hình, số xóm và dân số). Mỗi tỉnh có mươi mười ba đoàn, mỗi đoàn có
khoảng 80 đến 100 cán bộ, có trưởng phó đoàn. Trưởng đoàn nhận mệnh lệnh trực
tiếp từ ủy ban CCRĐ, không thông qua hệ thống trung gian nào, kể cả cấp ủy Đảng
và chính quyền địa phương. Mỗi đoàn lại được chia thành nhiều tổ có năm, bảy đội
viên phân bổ về các thôn xã. Đội trưởng được chọn trong số cán bộ, bộ đội, đội
viên gia đình bần cố nông nghèo khổ nhất là những cán bộ, bộ đội được tôi luyện
trong cuộc kháng chiến chống Pháp vừa qua. Đội trưởng có quyền hành quyền uy lớn
nhất, quyền sinh, quyền sát tuyệt đối, có thể “ tiền trảm hậu tấu” và chỉ nhận
chỉ thị, mệnh lệnh từ ban cải cách. Đội CCRĐ xã Nghĩa Đồng do huyện Nghĩa Đàn
chỉ đạo được thành lập, trong đó có số đội viên gồm các ông Cơ,ông Cẩu, ông An,
ông Môn, ông Toại và một số thành viên khác, mỗi thành viên được phân công việc
cụ thể về phụ trách từng xóm.
Trong quá trình làm việc, học tập trước khi những cuộc đấu tố địa chủ diễn
ra, các cán bộ đội cải cách được phân về các thôn xóm và điều đầu tiên phải làm
là thực hiện chính sách “tam cùng” (ba cùng) với người nông dân. Nghĩa là người
cán bộ đội về địa phương phát động phong trào phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc
với gia đình nông dân diện bần cố nông. Điều đó khiến cho cán bộ đội phải từ thực
tế sát sao, gần gũi để mà đồng cảm với hoàn cảnh của người nông dân làm cho họ
có tư tưởng vùng lên đấu tranh đánh đổ giai cấp địa chủ thực sự, hạ uy thế chúng
xuống và đồng thời nâng cao khí thế cách mạng của giai cấp nông dân trong sức mạnh
cách mạng toàn dân tộc.
Đồng thời trong nội dung công tác có phương pháp “Thăm nghèo gợi khổ”.
Ngoài việc thu thập tin tức để “xếp loại kẻ thù”, Đội còn khơi gợi người nông dân
thổ lộ nỗi khổ, khơi gợi lòng căm thù và tìm ra những cá nhân có thể bồi dưỡng để
tham gia trực tiếp tố khổ hoặc bồi dưỡng trở thành cốt cán. Nghĩa là qua sự gần
gũi thân quen, người cán bộ đội phải tìm ra cho được những người nông dân tuy
nghèo khổ nhưng trong sạch về lí lịch gia đình mà xây dựng cơ sở tạo nên khối đoàn
kết vững chắc rồi đưa họ tham gia cuộc đấu tranh giai cấp giữa nông dân và địa
chủ...
Trong quá trình thực hiện, trong điều kiện đó gặp không ít khó khăn. Người
cán bộ Đội thực sự “ba cùng” với người nông dân, với từng gia đình. Ăn thì cơm độn
ngô, khoai, thức ăn chỉ có măng, dưa, cà. ở lại càng khó hơn, hầu hết người nghèo
khổ lại toàn đi ở không có nhà, gia đình có nhà thì chật chội, vài gian nhà
tranh rách nát kê tạm ít chiếc giường chõng tre chỉ đủ cho người trong gia đình,
khách có ngủ cũng phải chen chúc...Tất nhiên lúc đầu khổ sau phải quen, phải khắc
phục, như thế mới làm được việc.
Trong công việc, trong trao đổi, hội họp phải
hướng dẫn, phân tích cho người nông dân thấy rõ chính sách giảm tô, CCRĐ của Đảng,
chính phủ là đúng đắn nó mang lại quyền lợi thiết thực cho người nông dân, đảm
bảo chủ trương “dân cày có ruộng”.
Bằng phương pháp “Lấy nghèo gợi khổ”, lấy tội ác áp bức bóc lột của giai
cấp địa chủ phong kiến đàn áp bóc lột, đánh đập người nông dân đến cùng kiệt để
khơi dậy lòng căm thù của quần chúng nông dân lao động, giúp họ xác định được kẻ
thù của mình chính là bọn địa chủ cường hào ác bá là chế độ phong kiến và thực
dân Pháp xâm lược...
Người
cán bộ đội phải lấy chính sách của Đảng, chính phủ và Bác Hồ, thành quả lớn của
thực tế đấu tranh cách mạng để minh chứng hùng hồn... Từ đó gây niềm tin tưởng
vào chính sách của Đảng, Bác Hồ... Có cái nhìn mới ở mỗi con người nông dân...
Bằng các biện pháp đó, nhìn chung các xóm dù ít,
dù nhiều đều tìm ra được “địa chủ”, tất nhiên không thể đúng với tỷ lệ số lượng
quy định cho từng thôn xóm, cho toàn xã. Có những chuyện giờ kể lại như một
chuyện khôi hài, bi đát. Có người nông dân lên tố khổ, đấu địa chủ, tính số năm
đi ở bị địa chủ bóc lột nhiều hơn tuổi thực của mình gần chục tuổi. Nghĩa là đi
ở từ khi chưa có bào thai trong bụng mẹ, thậm chí bố mẹ lúc đó chưa lấy nhau.
Toàn là tố cáo láp, tố cáo sai sự thật. Đây cũng là một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến những sai lầm, những tổn thất lớn trong CCRĐ, khiến nhiều người bị
oan, nhiều gia đình bị quy sai thành phần, bị quy tội, thậm chí bị chết oan vô
tội...đến khi có chủ trương sửa sai thì mới trả lại tự do, quyền lợi cho họ.
Nhìn chung cuộc sống của những người dân nói
chung, người nông dân nói riêng, trước, trong CCRĐ vô cùng nghèo khổ- Số gia đình
khá giả bị quy địa chủ có nhà ngói, sân gạch, tường xây bao quanh, nhà cao kín
cổng có của ăn của để còn lại toàn nhà tranh vách đất hoặc thưng phên nứa lụp xụp,
chật chội suốt đời lam lũ nghèo khổ. Số hộ nghèo nhiều nhưng tìm ra gia đình cốt
cán thì quả khó khăn. Xóm Tây Tiến (Sau này sát nhập xóm Nam Giang gọi Nam Tiến)
có bà Lịch nghèo khổ nhất làng xã. Một cố nông độc thân sống chui rúc trong một
túp lều xiêu vẹo, rách nát, không đất đai vườn tược, trong nhà chẳng có vật dụng
gì đáng giá ngoài chiếc vại sành đựng nước ăn đã sứt mẻ, rạn nứt và chiếc giường
tre ọp ẹp trên có mấy tấm chiếu rách nát, vài ba chiếc nồi đất chơ chỏng bên bếp
củi kê mấy viên gạch nửa. Suốt quanh năm chí tối ngô khoai đi mót, mò cua bắt ốc,
rau cháo qua ngày, cuộc sống lam lũ khổ sở. Bà mặc bộ quần áo vải nâu nhuộm bùn
sờn, rách vá hàng trăm mảnh. Riêng chiếc váy (mấn) vá gần trăm mảnh. Nghe đâu
sau này được đưa đi triển lãm để minh chứng cho nỗi thống khổ của người nông dân
sống dưới chế độ áp bức bóc lột của thực dân phong kiến – Một bà mẹ già sống
trong một túp lều chật chội, cán bộ đội không thể « ba cùng” được. Một số nông dân
ở xóm Bắc Lộ (sau gọi Hoa Bắc) quá nghèo khổ như Dục Hỵ, Văn Thuyên, Cu Liệu,
Chiến Rụt, mồ côi đi ở từ nhỏ, không nhà cửa ruộng vườn, Đội về họ vẫn đang đi ở, Địa chủ chưa
có, chưa tịch thu, trưng thu nhà cửa, chưa có ‘quả thực’ để chia cho họ. Muốn sống gần gũi
với những người đó thật khó khăn. Bởi chuyện ăn, chuyện ngủ...Một số gia đình
tuy có nhà cửa, nhưng cũng rất chật chội, đã nghèo lại khó, chẳng có giường chiếu,
có chăng cũng chỉ vài ba mảnh chiếu rách trải lên chiếc chõng tre ọp ẹp. Nhà ông
Ngại Thiệu, sát ngay bên đường phân cách giữa hai xóm Bắc Lộ và Tây Tiến có hai
gian nhà và một chái (dùng làm bếp) bao quanh gài tre nứa. Hai gian nhà nhỏ chỉ
kê một chiếc giường, người lại đông, ngoài hai vợ chồng còn có một bà già gần
80 tuổi (cố Ngại thiệu) và ba đứa con, cán bộ Đội cũng không ở được. Nhưng bằng
cách gần gũi trực tiếp hay gián tiếp gì đó mà những người này đều là cốt cán và
tố khổ mạnh nhất, đặc biệt Dục Hỵ, Ngại Thiệu đều là công an xã sau đợt cải cách
này có một số nhóm tổ đội tìm được nhà ở thực hiện ‘ba cùng’ với gia đình gặp
quá nhiều khó khăn vất vả.
‘Ăn cùng’ cơm độn ngô lẫn khoai lang. Gọi là cơm
nhưng thực ra toàn ngô, khoai, rải rác vài ba hạt gạo dính vào cả bát ngô, củ
khoai (gạo tiêu chuẩn của cán bộ Đội). Thức ăn thì chỉ có măng muối kho mặn, đĩa
muối vừng, bát canh rau khoai nấu muối hoặc tí mắm tép ướp lâu ngày. Ngủ, thì
như ta đã biết, thường những gia đình nghèo lại thiếu cả giường chiếu. Một giường
hai hoặc ba cán bộ Đội cùng nằm. Nếu một hoặc hai người một giường thì phải kèm
thêm một đứa bé của gia đình. Đêm ngủ trời nắng nóng dùng quạt mo cau, quạt nan
tự đan, trời lạnh thì đắp chiếu, thiếu chiếu đắp bì gai sọc xanh (bì sọc xanh đựng
thóc gạo trước đây) bì gai đay Nhật sản xuất.
Cán bộ Đội phải đồng cam cọng khổ, động viên mọi
người trong gia đình vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn, từ đó gợi lên lòng căm
thù kẻ đã gây nên cảnh đói nghèo này cho gia đình họ, cho bà con chòm xóm và xác
định cho họ đều cùng là giai cấp nông dân lao động, đều bị bọn địa chủ cường hào
ác bá chiếm đoạt không chỉ ruộng đất mà cả sức lao động, cả giá trị cuộc sống
con người nữa, khiến cuộc sống của họ chịu cảnh nghèo đói khổ sở...
Để
cùng đồng cam cọng khổ với sự lao động vất vả, để nắm được tâm tư tình cảm của
gia đình, cán bộ Đội luôn cùng gia đình làm bất cứ việc gì : Cuốc đất, gánh phân,tăng
gia sản xuất, chặt củi, hái rau...Nghĩa là gia đình có việc gì làm, họ làm thì
cán bộ Đội cùng tham gia ...không quản ngại, không từ chối. Và như vậy đã thực
sự thực hiện tốt ‘ ba cùng’ với người nông dân.Trong ‘ba cùng’, ngoài việc nắm
bắt tin tức, tư liệu để xếp loại đối tượng ‘kẻ thù’, người cán bộ Đội đã khêu gợi
‘mở đường’, ‘bật đèn xanh’ cho người nông dân thổ lộ nỗi khổ, nói ra những điều
ấm ức trước nay, từ đó khơi gợi lòng căm thù kẻ áp bức bóc lột, đồng thời tìm
ra được những người có thể bố trí bồi dưỡng để tham gia tố khổ hoặc đưa vào hàng
ngũ cốt cán. Những người nông dân đã từng có quan hệ đi lại với những gia đình
khá giả, giàu có trong làng xã được Đội động viên, khuyến khích cổ vũ để họ tự đứng
ra tố cáo là đã từng bị cường hào ‘áp bức bóc lột’, nhất là tìm trong số đó có
chị em nào đã bị lợi dụng ‘cưỡng hiếp’ để quy tội thêm nặng cho đối phương. Thậm
chí những người vô gia cư nghèo khổ, con
cháu, họ hàng với ‘địa chủ’ cũng được đội viên của Đội gần gũi, tiếp xúc lôi kéo,
vận động để đấu tố người thân, người cưu mang, đùm bọc mình khi khó khăn hoạn nạn.
Từ cuối năm 1953 đến đầu 1956 trên các làng xã
toàn miền Bắc nói chung, trên địa bàn làng Sen xã Nghĩa Đồng nói riêng đã diễn
ra biết bao đợt phát động quần chúng giảm tô và CCRĐ và đã thu được nhiều thành
quả đáng kể. Đó là đánh đổ giai cấp phong kiến thống trị, bọn địa chủ cường hào,
ác bá áp bức bóc lột bần cùng hóa người nông dân đem lại ruộng đất cho dân cày
nghèo, lấy của cải của cường hào địa chủ mà do sức lao động mồ hôi xương máu của
người nông dân chia lại cho họ để có cuộc sống mới, đổi đời cho người nông dân
lam lũ, thực hiện ‘ người cày có ruộng’ thỏa nguyện ước mơ của người nông dân bao đời nay . Nhưng
ngoài những thành quả đã đạt được đáng kể đó, CCRĐ đã gặp phải những sai lầm đáng tiếc, đó là
cách làm, cách thực hiện mà sau này sửa sai ta mới thấy rõ. Đó là đấu tố sai sự
thực để đi đến quy sai thành phần. Đó là ép cung, dùng bạo lực bắt buộc phải nhận
mình là phản động , là địa chủ cường hào. Biết bao người, bao gia đình bị quy
oan, quy sai thành phần, quy tội phản động chống lại chính quyền nhân dân...
Có thể nói số gia đình bị quy oan sai thành phần, số người bị quy là phản
động trong toàn xã khá nhiều, riêng làng Sen chỉ trong ba xóm Bắc Lộ, Tây Tiến,
Nam Giang đã lên tới con số hàng chục, chủ yếu vì các biện pháp “khơi gợi đấu tố”
truy bức, lăng mạ, làm nhục để đưa tỉ lệ địa chủ trên dân số theo định mức đặt
ra, đảm bảo chỉ tiêu càng nhiều càng tốt để tỏ rằng đội đã “phát động quần chúng
tốt, làm đến nơi đến chốn”, “thà quy oan chứ không bỏ sót”. Trên thì động viên
tuyên truyền “ Nhà nông chúng ta phóng tay phát động” dưới thì những đoàn, những
đội cải cách quyền sinh, quyền sát “Nhất Đội, nhì trời” lộng quyền dùng mọi thủ
đoạn tra tấn, giam cầm, đánh đập, nhục hình khi chưa có bằng chứng cụ thể và chưa
có tòa án xét xử. Biết bao gia đình khá giả tham gia cách mạng kháng chiến đã đóng
góp tiền của trong “ Tuần lễ vàng” quyên góp cho kháng chiến trong những ngày
gian khổ khó khăn giờ CCRĐ bị đưa ra đấu tố vì là địa chủ cường hào. Bao người
trí thức từng là cán bộ Việt Minh, có người là trưởng ban BTVH từ thời kỳ 1936-1939
bị quy là phản động đầu sỏ. Đó là trường hợp ông PhạmQuang Khầm ông là cán bộ bình dân học vụ từ những
năm 1936 – 1939, vợ là bà Cao Thị Tuyết là hội viên hội phụ nữ kháng chiến . Bà
tham gia công tác hội phụ nữ từ 1945 – 1953, trong tuần lễ vàng gia đình bà ít
nhiều đã quyên góp tiền của cho cách mạng, cho kháng chiến , thế mà bị quy là
gia đình tiểu tư sản phản động. Ngày ông Khầm bị bắt đột ngột trong đêm, mọi người
ai nấy trong thôn xóm đều bất ngờ không ai hiểu chuyện gì đã xảy ra, vì ông là
cốt cán bình dân học vụ, một con người hết lòng vì cách mạng và kháng chiến của
dân tộc. Ông còn viết báo, làm thơ để động viên mọi người tham gia kháng chiến
trong đó có “diệt giặc đốt”, một mặt trận chiến đấu mà ông đang chỉ huy. Cùng với
việc bị bắt là tịch thu nhà cửa, dụng cụ, đồ đạc trong nhà, trước hết là niêm
phong tất cả, chờ ngày xử lí.
Ông Phạm Quang Khầm vốn là một tú tài Tây học – Thời dở Tây, dở ta có
nhiều sách báo bằng tiếng Pháp, tiếng Tàu (chữ Trung Quốc) xếp rất ngay ngắn,
ngăn nắp trên giá sách. Trong từng ngăn tủ còn có những bình đựng axit sun fu
ric, các hóa chất, lọ thuốc tím, lại có cả những chai rượu ngoại Sâm panh, Na Pô
Lê Ông...Nhưng bình ngoại rượu nội, bình Tây rượu ta, Đội kiểm tra, khám xét thấy
vậy cho là sách nước ngoài làm gián điệp, có chứa thuốc độc , chữ Tây, chữ Tàu
thì các đội viên đội cải cách như anh Cơ,anh Cẩu tên các cán bộ Đội) không đọc được, chẳng hiểu
chi, cho là sách cấm, sách của bọn gián điệp. Lấy Axit sun fu ric nhỏ giọt vào
con chuột thì chuột chết, nhỏ vào miệng cóc: Cóc chết, cho đó là thuốc độc. Thế
là tuyên bố một câu xanh rờn: “ Phạm Quang Khầm thằng phản động đầu sỏ, tống
giam ngay, chờ ngày hành xử”.
Trong một ngày phỏng vấn ( thực ra là tra khảo
lần thứ hai,ba) tại nhà ông Phợn, tôi đứng ngoài nhìn qua cửa sổ chứng kiến: Một
cán bộ đội (sau này tôi mới biết đó là Đội Cơ) đưa tập báo bằng tiếng Pháp và
quyển sách bằng chữ nho (chữ Tàu) dơ trước mặt quát:
-
Khầm, đây có phải là sách quốc cấm của bọn gián điệp, bọn
Việt gian đưa cho mày phải không?
Không như lần hỏi cung trước, ông ngập ngừng hồi
lâu rồi từ chối. Lần này ông không cần suy nghĩ trả lời ngay:
-
Dạ thưa cán bộ phải.
Đội
Cơ lại lấy lọ thuốc mà Đội Cẩu trao cho sau khi đã nhỏ vào mồm chuột và cóc bị
chết, lại quát:
-
Khầm: Thế đây có phải là thuốc độc mà mày tàng trữ để giết
hại cán bộ nhà nước và nhân dân không?
-
Dạ, đúng.
Đội Cơ nói câu cuối
cùng: Như vậy là đã rõ, đúng là một tiểu tư sản thiếu lập trường, một tên phản động
đầu sọ – kết luận cuối cùng.Thế là ông không phải ra đấu trường để mọi người chỉ
tay đấu tố, Đội cho tống vào nhà tạm giam. Gần một vài tuần sau đó có chỉ thị của
trên gửi về sửa sai- Ông Phạm Quang Khầm vô tội, được trả lại tự do, bồi thường
danh dự, sau này ông làm trưởng phòng giáo dục huyện Nghĩa Đàn.
Trường hợp ông Nguyễn Thế Vượng lại oái ăm hơn,
thảm thương hơn. Từ đời ông đến đời cha chỉ là dân lương thiện, không làm gì
cho đế quốc, phong kiến. Bản thân ông có tham gia hoạt động cách mạng. Các anh,
chị, em ông đều vào các hội do Việt Minh tổ chức: Hội nông dân, hội phụ nữ, hội
mẹ chiến sĩ... phục vụ cho kháng chiến... không phải địa chủ cường hào ác bá, áp
bức bóc lột người nông dân, gia đình thường thường bậc trung nông, nhà cũng chỉ
mới dăm ba gian lợp ngói, còn sân đất, chung quanh rào cây sống, chỉ vài ba mẫu
ruộng cấy lúa, trồng màu, khai hoang được dăm bảy sào đất trồng ngô. Gia đình đông
người, nhưng toàn đàn bà con nhỏ lại có cả bà cố già, không tham gia lao động sản
xuất được, phải thuê mượn người cày, cấy, chăn trâu, giúp việc...thế là quy địa
chủ...
Bao lần hỏi cung tra khảo, do tính thật thà,có
gì nói nấy, không thể không nói có...bản chất người dân quê thuần nông lại thêm
tính trung kiên chịu đựng của người cách mạng, thà chết chứ không khai, không
nhận tội, thế là Đội kết luận: Nguyễn Thế Vượng tên địa chủ đầu sỏ, ngoan cố” và
tuyên bố tống giam chờ ngày xử bắn...
Trên đường ra pháp trường ông “được sổng” chạy
thoát (sau này được biết tốp dân quân dẫn ông đi cám cảnh cho ông, thương tình,
cởi trói cho ông chạy thoát...). Đội phải tập trung toàn bộ lực lượng Đội, lực
lượng dân quân toàn xã truy lùng...Khi chạy vượt qua được khu vực xóm Cộc – Bà
Già xuống vũng Cuốc, vũng Vả, bị truy lùng ráo riết, vòng vây dần một khép lại.
Trúng kế, lợi dụng lúc một nữ dân quân sơ hở, ông lao ra cướp giật được chiếc
kiếm và tự sát, lưỡi kiếm chỉ mới cắt đứt cuống họng, máu phun ra lênh láng...Đội
vẫn tuyên bố khiêng về, đưa vào trường bắn, dựng dậy, bắn...
Chứng kiến cảnh này quả là rùng rợn, quả là thương
tâm. Đau xót hơn, thương tâm hơn, khi chôn không một manh chiếu bó thân, nằm trên
chiếc băng ca bị hất xuống, mặt úp sấp , lại bị một người trong số người khiêng
xác từ pháp trường ra chôn dùng chiếc cào móng (cào 5 răng làm bằng sắt) mổ một
nhát vào đầu sau ót.
Không chỉ ở đây mà ở
các nơi khác trong việc đấu tố, quy sai thành phần, tội trạng cũng cũng quá tội
không kém.
Biết bao trí thức, tiểu tư sản, tư sản, địa chủ,
phú nông theo cách mạng, tham gia kháng chiến, đã đóng góp công sức, tiền của từ
những ngày đất nước còn gặp nhiều khó khăn, giờ đây CCRĐ đều bị đưa ra đấu tố.
Có người đã thốt ra những câu mỉa mai chua xót: “Dân ta đánh dân mình”... Nhà bà
Năm Quế ở làng Cừa ( Nghĩa Hoàn). Hai vợ chồng đều tham gia hoạt động cách mạng,
phục vụ kháng chiến từ những ngày ở trong quê Hà Tĩnh, lên miền núi cũng vì cuộc
sống, vì cách mạng. Bà có ba con: Đặng Xuân Quế,Đặng Xuân quang, Đặng Thị Hường
đều tham gia vào các tổ chức hội của Việt minh, kháng chiến. Nhiều cán bộ làng
xã thường đến nhà bà bàn bạc, trao đổi chuyện làm ăn, chuyện kháng chiến. “tuần
lễ vàng” gia đình bà đóng góp cho kháng chiến khá nhiều. Thế mà vẫn bị đấu tố,
quy tội “ địa chủ phản động”, bị tịch thu, trưng thu tài sản.Anh Đặng Xuân
Quang học hết cấp I phải bỏ học mấy năm vì hoàn cảnh gia đình như vậy. Năm 1955
-1956 ra Nghĩa Đồng học lớp 5 còn gặp nhiều khó khăn, không chỉ thiếu sách vở,
bút mực mà cả ăn mặc. Cùng học với anh tôi, mẹ tôi cưu mang nuôi cho ăn học...Nhờ
có chủ trương sửa sai, gia đình bà được trả lại thành phần.
Vẫn biết, kẻ có tội với nước với dân thì phải
xử, trị tội, nhưng phải xét đúng người, đúng tội. Trong trường hợp trên thì quá
tội, không phải đạo, không thể chấp nhận được khi mà lưỡi gươm, mũi súng lại chĩa
vào những người mà chính những người ấy lại là những người đã vì cách mạng vì
kháng chiến, vì lợi ích con người xã hội.
Có thể nói chủ trương CCRĐ của Đảng, chính phủ
là đúng đắn, sáng suốt, nó sẽ thành công tốt đẹp, mà không mắc một sai lầm nếu
như không có những cuộc đấu tố sai trái, không đúng sự thật để đi đến chỗ quy
oan quy sai thành phần bởi không có những cán bộ Đội quan liêu ,yếu kém, thiếu
trách nhiệm, vụ thành tích làm sai chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước...
nhiều người đau xót quá, tự than vãn, có người tự sát, tự đi đến cái chết oan
nghiệt...Vì họ nghĩ đất đai, nhà cửa, tài sản thì chẳng tiếc gì và cũng chẳng đáng
là bao... nhưng không thể chịu đựng được cái cảnh đấu tố oan sai thậm chí có trường
hợp được Đội mớm, bị thúc ép bắt ân nhân đấu tố người cưu mang giúp đỡ mình khi
gặp khó khăn...Đau xót hơn có cảnh con đấu cha, vợ tố chồng (con nuôi, vợ lẽ).
Nhất lại trong khi mình một lòng vì dân vì nước luôn đi theo cách mạng mà phải
chịu cảnh đưa ra đấu tố, rồi bị tù đày, đánh đập, khủng bố, thậm chí xử tử hình...Tất
nhiên sau đó không lâu đã được sửa sai. Vào đầu năm 1956, nhận được chỉ thị của
cấp trên, thấy được sai lầm, các địa phương trên cả nước thực hiện chủ trương sửa
sai CCRĐ của trung ương Đảng, chính phủ. Dưới sự lãnh đạo của ban sửa sai CCRĐ
của huyện Nghĩa Đàn, Đội sửa sai của xã Nghĩa Đồng được thành lập, do ông Võ Thái
Nhiên làm đội trưởng, các đội viên ông Tân, ông Quy, ông Hùng.
Bước vào công cuộc sửa sai, trước hết là rà
soát lại việc phân loại thành phần, xem đội cải cách đã thực hiện sách lược phân
hóa thành phần bần, cố, trung nông với địa chủ phú nông như thế nào, sai, sửa,
trả lại thành phần, tài sản cho những gia đình địa chủ, phú nông bị quy sai, bị
tịch thu, trưng thu tài sản và minh oan trả lại danh dự tự do cho những cá nhân
bị quy là phản động đầu sỏ, chống phá cách mạng...Đồng thời nêu ra và công bố
những thắng lợi, thành quả đạt được trong CCRĐ và sửa chữa những sai lầm lẽ ra
không đáng có; dần dần, từng bước ổn định tư tưởng, tổ chức từ trong Đảng đến các
đoàn thể quần chúng nhân dân, ổn định an ninh, trật tự xóm thôn, làng xã, khơi
dậy tình làng nghĩa xóm, tình đoàn kết trong mọi tầng lớp nhân dân.
NHÀ TÔI
Ngày ấy , cách đây hơn ba mươi năm , Nhà tôi là một cô gái trẻ . nói đúng hơn là một
thiếu nữ quá trẻ - 18 tuổi . Cô gái ấy
là con một gia đình láng giềng khác xóm . Tuy hai xóm khác nhau nhưng chỉ cách
một con đường cái – đường liên thôn Nam Tiến – Hoa Bắc . Hằng ngày đi đâu cũng
qua ngõ nhà nhau . Ông bố mất , bà mẹ tần tảo nuôi sáu người con . “ nhà ” Tôi
là con thứ năm nên đặt tên theo thứ tự là Năm – Bích Năm .
Tôi biết em từ nhỏ , khi còn để tóc
đáp , tóc mai , chơi đồ hàng , bày trò làm “ mẹ con ” ... Nhưng bẵng đi một
thời gian khá dài , kể từ khi chúng tôi ( bạn bè cùng trang lứa trong đó có anh
trai thứ hai của em) đi học cấp ba trường huyện – Thái Hoà , tiếp đó đi học đại
học chuyên nghiệp trong và ngoài nước (lưu học sinh ) ra trường , đi xa ...
xuýt xoát 10 năm trời đằng đẵng . Chúng tôi gặp nhau sau gần chục năm xa cách .
Đó là một ngày trong kì nghỉ hè năm 1971 , tôi đạp xe đi dạo quanh các xóm
làng, khu đồi , cánh đồng , mà trước đây tôi thường đi chăn trâu , kéo xe phân
,cày bừa , ( Lúc này Làng sen đã chuyển dời lên Eo Đế ) . Gặp em khi em đang
dùng gàu sòng tát nước cho vào ruộng lúa . Gặp tôi, em dừng tay lấy khăn đội
đầu, che mặt lau mồ hôi chào hỏi. Tất nhiên mới chỉ là những lời chào hỏi xã
giao giữa người đi xa với người ở lại quê nhà. Nhưng tôi đã cảm mến em ngay từ
cái nhìn đầu tiên và chác em cũng vậy ...
Thế rồi lần về quê đón tết năm đó,
trong lần gặp đầu tiên, tại nhà tôi (em và mấy bạn cùng lứa tuổi đi chúc tết)
thấy em ngày một xinh, một đoá hoa đồng nội có thể nói một hoa khôi nhất nhì
trong làng xã lúc đó. và tôi có cảm tình ngay với em vì cái nhìn trìu mến, dịu
dàng, thông minh và nụ cười có duyên (dù mỗi lần cười em thường hay che miệng)
. Nhất là có một nét gì đằm thắm chín chắn , đôn hậu, đáng yêu toát ra từ đôi
mắt đen láy như mắt bồ câu dịu hiền xinh xắn, mái tóc đen dày và dài, cách nói
chuyện từ tốn lễ độ đầy hấp dẫn và dáng đi đứng duyên dáng của một cô gái thôn
quê , khác với điệu bộ nhí nhảnh làm duyên của một số cô gái thị thành mà tôi
được biết .
Và ngay ngày hôm sau, nhận lời mời của
em và tình cảm của người đi xa về quê ăn tết tôi cùng mấy đứa bạn qua nhà em
chúc tết, thực ra là ăn tết mùng 2 – đưa ông bà, gia tiên (tất nhiên có các bạn
của em cùng đến ) tôi đã gần như phải lòng em ... như các cụ thường nói . Nói
đúng ra là đã thích em , yêu em . Bởi
không yêu sao được khi em không chỉ là một cô gái đẹp tuổi trăng tròn mà còn toát lên sự dịu dàng, e ấp,
nhân hậu, đầy nữ tính, một vẻ đẹp hồn nhiên dịu hiền, thuần khiết. Bởi thế cả
gia đình tôi, kể cả người chị họ (con ông bác) công tác ở ty công an Bắc Thái
về chơi chúc tết thấy và đều khen em , quý mến em về cách sống, cách cư xử và
đức hạnh và hơn thế em còn có một tâm hồn đẹp và sâu sắc ... mặc dù lúc này tôi
đã là một giáo viên cấp ba đã 27 tuổi đầu già dặn nhiều so với em ... Thú thật
tôi đã từng yêu và đã được đáp lại tình yêu, điều đó em cũng đã được biết,
nhưng trái tim tôi chưa từng rung động như lúc này, khi đứng trước em, nhất lại
ngồi cùng mâm với em được em gắp thức ăn rót chúc rượu và nói những câu ý tứ,
tế nhị... Rồi một sự tình cờ, cơ hội lại đến với tôi cái may mắn lại đến với
tôi Tối hôm đó đi xem “Hội diễn văn nghệ dưới làng ( Làng Mài: 2 xóm Hồng Yên,
Xuân liên ) lại gặp em, xem ít tâm sự chuyện trò nhiều : khi về đi cùng đường
với em lại được người bạn gái (không phải bạn gái quan niệm như bây giờ) cho
mượn đèn pin đưa em về nhà (nhà em cách nhà tôi một quả đồi và một cánh đồng) .
Trên đường đi và đến lúc sắp chia tay qua những lời tình tứ , bóng gió, tôi
biết em đã có cảm tình thực sự với tôi ... Thế rồi trước khi chia tay, ngay
trước cổng ngõ nhà em, tôi nắm tay em nói mấy lời tạm biệt . ( Ngày mai tôi lên
dường ra trường công tác ) . Lúc đó không hiểu sao, tôi không kiềm được lòng
mình bất chợt tôt khoác tay qua vai thấy em không phản ứng gì , coi bộ ưng ý
đồng tình, tôi ôm em vào lòng và hai tay em cũng ôm chéo qua vai tôi, rồi tiếp
đó là một nụ hôn vụng về đằm thắm và tình yêu thật sự đã đến với tôi từ đó (Tối
mồng 2 tết năm 1972 ) .
Và kể từ đó trở đi chúng tôi đã có rất nhiều
kỉ niệm. Cảm giác rung động của một chàng trai từng trải với một cô gái thôn
quê tuổi 18 đôi mươi thật khó nói. Xa nhớ, nhớ khủng khiếp. Đúng như nhà thơ tố
hữu nói “Nhớ gì như nhớ người yêu ”. Chỉ ước muốn luôn ở bên nhau ... Và như
thường lệ cứ mỗi tuần vào tối thứ bảy là tôi viết thư về cho em và đương nhiên
cũng chừng ấy thời gian em cũng biên thư cho tôi, nhưng phải ba tuần sau, có
khi cả tháng chúng tôi mới nhận được thư nhau (Vì chiến tranh). Mỗi lần nhận
đọc thư em mà nghe thổn thức con tim ... Cầm bút viết thư cho em, tôi thấy như
em đang ngồi bên ... như đang tâm sự với em : Em Năm yêu thương ... Em như ánh
mặt trời. Em như làn gió nhẹ, như buổi rạng đông. Em là hạnh phúc, là ánh bình
minh ... Có một bông hoa đồng nội, một đóa
hoa rừng tươi nở trong tim em và toả hương sắc ra toàn cơ thể em . Anh
đã nhìn thấy cuộc sống. Dù ai nói gì với em đi chăng nữa thì em cũng hãy tin
rằng : cuộc sống là kì diệu là tươi đẹp . Tình yêu là ở chúng ta . Hạnh phúc là
do chúng ta tạo dựng .
Tuy rằng thư đi thư lại cũng chủ yếu là
lời hỏi thăm sức khoẻ, công tác, kể chuyện thường ngày còn những lời tình tứ
yêu đương, những tâm tư tình cảm chưa phải là nhiều. phải chăng còn để dành cho
nhau khi gặp lại ...
Hè về, gặp nhau, em ngày một xinh, từ
đôi mắt, mái tóc, vóc dáng , nước da ... những ngày nghỉ phép hè , ngoài những
buổi đi chơi cùng bạn bè, còn lại tối nào cơm nước xong dạo quanh qua mấy nhà
anh em hàng xóm tôi lại sang nhà em .
Một hậu thuẫn rất có điều kiện vun đắp
cho tình yêu của chúng tôi, tạo điều kiện cho chúng tôi được thường xuyên gặp
gỡ nhau , gần nhau nhiều . Đó là thời gian này các anh chị của em đều đi công
tác xa . Anh trai cả Hiệu trưởng một trường cấp hai trên Quỳ Hợp, Anh trai thứ
hai học ở bên Liên Xô về làm giảng viên trường Đại Học bách khoa Hà nội, độc
nhất một chị gái đi dân công hoả tuyến và anh trai thứ tư cận kề em đang
đi trung cấp chuyên nghiệp. Ở nhà chỉ
còn ba mẹ con. Em trai út học xong cấp hai đang ôn thi vào cấp ba. Bà mẹ là
người mẹ chuẩn mực thương con . Hiểu con, tôn trọng con và nhất là rất tâm lý .
Nhất là đối với đứa con gái thứ hai bé bỏng của mẹ .
Những đêm đầu qua chơi , mẹ vẫn rất bình
thường đối xử bình đẳng như những đứa bạn nam khác của con đến chơi . nhưng
những lần sau đó ... qua lần này lượt khác , đêm này đêm kia ... Có lẽ mẹ cũng
thấy một điều gì trong việc “ năng đi lại ” đến nhà thường xuyên của tôi . Linh
cảm của người mẹ biết được hai đứa đã yêu nhau . Nhưng mẹ không kề ngăn cản
tình cảm của chúng tôi . trái lại mẹ còn tạo điều kiện , có ý vun đắp cho nữa
là khác . Bỏi tôi đã đoán đúng tâm lý bà mẹ ... Do tôi cũng đã được học khoa
tâm lý .
Những ngày đầu tuy chúng tôi đã có
tình cảm với nhau , tình yêu chớm nở , nhưng khi đến nhà chơi , tôi cũng không
dại gì mà sa ngay vào con gái mẹ như một vài chàng trai cùng trang lứa với em
đến chơi , tìm hiểu em . Với tôi sau câu chào xã giao với gia đình và được đáp
lại tôi vào nơi mẹ ngồi nói chuyện với mẹ , dù chỉ là những câu hỏi thường ngày
có tính chất xã giao được lặp đi lặp lại lời hỏi thăm như mẹ có khoẻ không ,
mùa màng năm nay ra sao ? Các anh chị có gửi thư về hay không ? Công việc mọi
người thế nào ? vv ... và vv ... Thế mà mẹ cũng rất vui , rất mừng và phấn khởi
... Bởi mẹ rất nhớ các con đi xa , nhất lại trong thời chiến , giờ nhắc đến con
mẹ , hỏi thăm con mẹ . Và dần già mẹ đã có
cảm tình thật sự với tôi ... Nhưng thật ra cũng chỉ vài ba lần đầu ,
những lần sau đó , mỗi khi đến vừa vào nhà chào mẹ và các em mẹ đã bảo con gái
lấy nước mời tôi và cũng vài ba câu xã giao mẹ khoác áo đi chơi bảo “ Hai đứa ở
nhà chơi tao đi đây một tý ”nhưng nào có đi một tý mà chơi bên hàng xóm lâu mới về . Tất nhiên
cũng không quá 23 h đêm ( mùa hè ) . Dĩ nhiên tôi cũng biết điều và
giữ ý nên thường 22h là chào em ra về , nên chưa lần nào bị nhắc
khéo qua con gái “ khuya rôi mai còn đi làm ... ” Như bà mẹ đã không cần ý từ
khi một chàng trai “ ngồi lỳ “” tán tỉnh con gái mẹ mà mẹ không ưng ( không
đồng ý ) Đồng thơi bên cạnh đó còn có cậu em trai tuổi còn nhỏ nhưng cũng đã
biết tâm lý , luôn tạo điều kiện cho anh chị ngồi chơi chuyện trò tâm sự .Biết
anh đến đã soạn sách vở qua nhà bạn học ( Em đang ôn thi vào cấp 3 ) . Trước
khi đi cũng không quên một câu chào đùa vui của tuổi trẻ : “ Anh chị ở nhà chơi
, em qua nhà bạn học và “ Em phải đi làm bài tập tâm ly đã ”
Thực tình buổi đầu tiên tìm hiểu không khải
không có khó khăn , gân như các anh chị của em đều phản đối . cho rằng “ Cặp
đôi thiếu hoàn hảo , mối tình không cân xứng . Tôi đã 27 tuổi đầu , trình độ
đại học , thầy giáo cấp 3 đang công tác xa và đã có bạn gai đưa về quê chơi ,
dù cho đó chỉ mới là bạn học , “ Tình yêu sinh viên ” trong quá trình tìm hiểu
không thành . Trong khi em mình mới 18 tuổi , vừa học hết cấp 2 , gái nhà quê
còn quá trẻ , chưa va chạm cuộc đời , lại có một số trai làng cùng trang lứa
hoặc hơn em vài ba tuổi đẻ ý , tìm hiểu ... Mối tình sau đó rồi sẽ ra sao khi “
Đôi lứa không xứng đôi ” Bởi bao tấm gương của mối tình tương tự gần như thế bị
đổ vỡ... Thực ra vì thương em mà các anh ngăn cản , xét về mặt nào đó về tâm lý
tình cảm và hiểu cho các anh . Song như mọi người đều biết , dù các anh không
chấp nhận , cho đến ngày gần cưới vẫn tỏ thái độ kiên quyết , không ủng hộ,
luôn ngăn cản . Nhưng được mẹ và chị gái ưng thuận ngay từ đầu và mẹ quả quyết
, dứt khoát “ Bay không ưng không ở nhà tổ chức đám cưới cho em thì tao đứng ra
lo tất còn có bà con , anh em và đoàn thể ” Hơn nữa về phía gia đình tôi ai
cũng tán đồng , ưng thuận . Nhất lại có mấy chị con ông bác công tác ở ty công
an Bắc Thái về thăm ( mục đích là bàn chuyện vợ con cho cậu – nói về tôi ) chỉ
có khen , không chê , ưng ý hoàn toàn . Bên cạnh đó có rất nhiều bạn bè của em
ủng hộ cố tình vun đắp , chi đoàn thanh niên nhất trí hoàn toàn chịu trách nhiệm
tổ chức hôn lễ . Cuối cùng “ trời không nghe đất , đất phải nghe trời ” , mọi
người đều phải chấp nhận và đám cưới được tổ chức sau hơn một năm kể từ ngày
chúng tôi yêu nhau ( Mồng 2 tết – 1972 – 12 tháng 7 năm 1973 ) Dĩ nhiên trước
đó , ngày mồng 8 tết ( sau ngày hạ nêu ) đã “ dạm hỏi “có ” trầu chạm ngõ lễ
vấn danh đàng hoàng minh bạch . Hai gia đình thực sự đi lại với nhau . Sau này
mới biết các anh không đồng ý , ngày cưới lấy lý do công tác không ở nhà được ,
phải đi , làm cho bà me phải nổi nóng “ Bay đi thi đi hết cả đi ” nhưng thực ra
các anh đi về quê ( Diễn châu ) báo tin,
mời và cùng các chú ( em ruột cha ) lên đám cưới . Buổi hôn lễ anh Nhưng
anh trai thứ hai – người phản đối mạnh nhất đại diện gia đình , họ nhà gái phát
biểu giao dâu khi họ nhà trai nhận dâu (
Tục lễ quê tôi lúc bấy giờ ) . Mới biết ngoài
mặt thì nói thế thôi , nhưng thực lòng vẫn thuận theo ý mẹ và tuân thủ
tình cảm , tình yêu của em gái . Còn tôi cũng tự nhận thấy mình không phải là
chàng trai đẹp người , đẹp nết , nhã nhặn , bảnh bao hào hoa như có người nhận
xét . Nhưng về trình độ và độ tuổi và trong cuộc sống bươn chải ngoài đời thì
chắc là tôi hơn hẳn , nói chẳng sai nhất là trình độ Đại học lúc đó là một sự
kiện lớn , là ước ao hàng bao thế hệ học trò . Một trình độ chuyên môn , một
kiến thức văn hoá mà nhiều người mơ ước . Bởi đại học thời đó , cả xã chỉ đếm
đầu ngón tay , quá hiếm .Còn yêu em hay không , thực lòng không , thực tế thời
gian sẽ chứng minh .
Rồi dần dần gần như tôn thờ tôi , tôi là
thần tượng là lý tưởng trong em , nhất lại cả xã lúc ấy chỉ có 3 giáo viên cấp
3 và 1 giảng viên đại học , trong đó có tôi . Và đây cũng là cơ sở , chổ dựa để
em bước vào nghề sư phạm . Và từ đó biết bao tình cảm chân thành , sự tin tưởng
đáng phâm phục đối với em ...
Cưới xong ,dự định của tôi là nếu tôi không đi B thì em đi học trung cấp
ngân hàng trung ương . Trường sơ tán tại Thịnh Đán gần trường cấp 3 Đồng hỷ tôi
công tác – Rất thuận tiện , tôi đã liên hệ và nhà trường đã đồng ý tiếp nhận .
Bởi thời đó vừa bao cấp vừa chiến tranh xin đi học ngành , nhất lại trung cấp
không có gì là khó . Hơn nữa hiệu trưởng trường là thầy Lương Thanh Tao ,anh
trai thầy Lương Duy Thứ mà thầy Thứ là chủ nhiệm lớp năm thứ 3 của tôi – Cán bộ
giảng dạy trường Đại học sư phạm Vinh . Hiện thầy đang công tác tại trường ĐHSP
Việt Bắc – Bắc Thái . Thầy rất mến tôi , thây trò thường đi lại và gặp nhau
luôn tại nhà thầy Tao. Và khi khoa ngữ văn của trường tổ chức hội nghị chuyên
đề văn học hoặc đề tài gì mới liên quan đến tác phẩm dùng trong nhà trường đều
mời cốt cán chuyên môn của ty giáo dục và các trường cấp 3 gần đó tham dự .
Thầy Lương Thanh Tao lại có con gái Lương Bích Thuỷ học lớp tôi chủ nhiệm (
Thầy Thứ trực tiếp đưa đến trường và tôi xếp vào lớp – tôi làm công tác tuyển
sinh phụ trách phân chia sắp xếp các lớp ) . Điểm nữa , thuộc lĩnh vực tình cảm , gia đình thầy lại ở Quảng Bình
, nhận đồng hương miền Trung ( Hồi đó
chiến tranh đi xa , gặp nhau không cứ là đồng hương xã , huyện , tỉnh mà vùng
miền cũng rất gần gũi , thân quen, gắn bó ) .
Nhưng kế hoạch dự định không thực hiện
được . Bởi Việt Bắc quá xa xôi lại thời chiến . Hai bên gia đình , nhất là hai
bà mẹ ý muỗn , nếu tôi không đi B thì xin chuyển về quê công tác để gần gia
đình . Mẹ ngoài không muốn xa con gái út – cưng , mẹ nội không muốn xa con dâu
út – mới . Còn em cũng không muốn đi học
ngành này . Lúc đó em chỉ thích đi học y – Đang trong đội xung kích của xã Đào lấp hố bom và nhiệm vụ chính là tải
cứu thương . Hoặc đi sư phạm cùng ngành với chồng để tiện sau này công tác và
nuôi dạy con cái . Sau thời gian bàn bạc đi đến nhất trí nộp đơn đi sư phạm .
Hiệm nỗi sư phạm đã tuyển sinh xong gần
như hết chỉ tiêu ( Kể cả 2 trường SPC1 SPC2 ) đã gửi giấy báo , một số giáo
sinh đã nhập học . Rất may là tôi có giấy chứng nhận và chứng chỉ học xong lớp
BDCBQLTƯ ( Bồi dưỡng cán bộ quản lý trung ương ) trường bồi dưỡng trung ương và
giấy giới thiệu nghỉ phép chuẩn bị đi B – Anh trai tôi đang là cán bộ UBND
Huyện , bí thư chi bộ cơ quan và đặc biệt hơn nữa người phụ trách tuyển sinhlà
cô Nguyễn Thị Hoà , bạn học với tôi hồi cấp I . Có điều sư phạm cấp II (7+3
) chỉ còn một chỉ tiêu ưu tiên đứa cháu
con chị gái tôi – Đẳng Thị Lan – Bố chiến đấu ở chiến trường B- C . Bên sư phạm
cấp I ( 7+2 ) cũng không còn chỉ tiêu , sau
khi tổ chức trường xin ý kiến phòng BDPT Ty giáo dục , sự thống nhất của ban
tuyển sinh Huyện , em là trường hợp ngoại lệ , được chuyển qua sư phạm cấp I .
Ở đó có số thầy là giáo viên tôi học cấp 3 lại cùng học với tôi cùng lớp ở đại
học như thầy Hoàng Ngọc Ân – chánh văn phòng , thầy Phan Xuân Chấn CBGD . Bước đầu vào trường như vậy là quá
thuận lợi . Nhất là thuận tiện cho tôi sau này mỗi lần về thăm em khi kì nghỉ
hè đến . Việc ăn ở , nghỉ ngơi , vợ chồng gặp nhau , gần gũi do các thầy lo tất
. Riêng lao động đầu năm làm lán trại , chỉ tiêu bao nhiêu ngày công khoán đóng
góp bao nhiêu chiếc tranh (Tranh săng lợp lán, lớp học )(tính ra em nhập học
chậm hơn một tháng ) tranh thủ ngày nghỉ , chủ nhật làm bù cho đủ và có sự hỗ
trợ giúp đỡ của bạn bè trong lướp , cũng xã ... Tất cả , tất cả và đây cũng là
động lực thúc đẩy , khuyến khích , cổ vũ em để em có sự cố gắng vươn lên trong
mọi mặt hoạt động công tác học tập để hoàn thành nhiệm vụ đạt kết quả tốt khoá
học và thành tích khả quan như sau này ...
Là
chồng tôi hiểu hơn ai hết , em không chỉ là cô giáo đẹp người , đẹp nết mà là
một con người có nghị lực , đầy niềm tin , khát vọng . Ngay từ những ngày đầu
khi đi học chuyên nghiệp vào trường sư phạm , em đã xác một chí hướng cho mình
và quyết tâm đạt được điều đó : Học tốt để có kiến thức vững vàng , chắc chắn ,
sau này đủ để truyền thụ cho học sinh . Cho nên ngay từ năm thứ nhất đã là một
giáo sinh khá toàn diện , được cả nhiều mặt , nhất là học tập và phấn đấu tu
dưỡng rèn luyện bản thân . Tất nhiên bên cạnh còn có sự giúp đỡ , động viên ,
cổ vũ của thầy cô giáo và bạn bè cùng lớp
Ra trường công tác kết thân chị em với Hiền
Lương học cùng khoá , khác lớp nay về cùng trường lại được phân đi vùng lẻ .
Hiền Lương cũng là cô giáo trẻ có nhan sắc ( được mệnh danh là hoa khôi vùng
lúc đó – Cùng với nhà tôi ) cũng say mê công việc , tình cảm chan hoà , tính
tình cởi mở , vui vẻ.. .
Hai người con gái này đã từng làm rung
động , say đắm bao chang trai mà họ
không tin rằng em đã có chồng trước khi đi học ngành và Hiền Lương đã có người
yêu sắp cưới ... Chỉ khi tôi về phép cùng với Thanh Bình – chồng sắp cưới của
Hiền Lương ( en trai bạn học tôi hồi cấp 3 ) lên chơi , thăm hỏi , lúc đó mọi
người mới vở lẽ ... Thì ra là vậy – Trách gì hai cô cứ ngoài giờ lên lớp là
miệt mài giáo án , ít đi chơi , kể cả ngày nghỉ và được mời đi xem phim , văn
công , giải khát ...
Một điều đáng nói trước khi nghỉ hưu cả hai
chị em đều là cán bộ lãnh đạo lâu năm và chiến sĩ thi đua cấp Huyện , Tỉnh liên
tục .
Năm 1975 TNSP , em nhận quyết định về công
tác trồng người tại trường cấp 1, 2 – 3/2 , thị trấn 3/2 quỳ Hợp , Nghệ Tĩnh .
Những năm đầu Miền Nam vừa giải phóng , đất nước mới thống nhất đang có nhiều
khó khăn nhất lại hàn gắn vết thương , khắc phục những tổn thất do chiến tranh
gây ra để lại , lại trong thời kì bao cấp nên cuộc sống đã khó khăn , càng khó
khăn hơn về mọi mặt ...
Sống giữa vùng nông trường QD 3/2 rộng
lớn , cuộc sống công nhân còn gian nan vất vả .Hơn nữa đại đa số cán bộ công
nhân là bộ đội Miên Nam tập kết giờ quê hương giải phóng về quê đóng góp xây
dựng quê hương hay ở lại sao đây ? Điều đó cũng ảnh hưởng không ít đến cuộc
sống hiện tại, nhất là việc học hành của con em ... Được cái đội ngũ giáo viên
khá đông ( Sát nhập hai cấp I , II ) ai cũng , vui vẻ phấn khởi , đồng cam cộng
khổ cùng làm tốt công việc được giao . Mọi người thực sự yêu thương , đoàn kết
giúp đớ nhường nhịn cho nhau mọi thứ : Từ củ sắn , bắp ngô , xô nước đến cái
bánh mỳ , bát gạo hẩm , đĩa muối vừng ... ( Thời gian công tác giảng dạy vùng
lẻ tại Bửng – Đội 1- NTQD 3/2 – nước thiếu , khe suối , giếng đều khô hạn , cạn
kiệt , phải chở nước vùng ngoài vào ) . Cuộc sống bao gian truân . Trong công
việc , nhất là công tác chuyên môn giáo dục , giảng dạy biết bao khó khăn ,
giáo viên sao tránh khỏi . Nhưng mọi người cùng quyết tâm khắc phục vượt qua .
Bên cạnh ban lãnh đạo trường ( BGH , Bộ tứ ) có năng lực trình độ . Trong đó
đồng chí hiệu trưởng là cán bộ , cốt cán chuyên môn của phòng giáo dục – đào
tạo đã từng làm hiệu trưởng nhiều năm có uy tín mới chuyển về trường được thể
hiện là người có năng lực , “ con chim đầu đàn ” đúng chức năng một lãnh đạo mà
biểu hiện rõ nhất trong cách lãnh đạo , khâu đoàn kết sử dụng con người và điều
hành công việc . Điều đó tạo thêm cho đội
ngũ giáo viên đoàn kết , nhiệt tình tương trợ giúp đỡ nhau trong chuyên
môn . Những người đi trước , có kinh nghiệm dìu dắt người mới bước vào nghề ,
để ai cùng tiến bộ , trưởng thành và trong số đó có em . Và em từ đây chính
thức được gọi là cô giáo – Cô Năm . một điều cần nói thêm là còn một động lực
để em cố gắng phấn đấu tốt hơn là Hiều trưởng chính là anh trai cả của em nên
mọi việc em muốn làm thật tốt để khỏi khó dễ cho anh mình và cho mọi người đều
thấy thực lực của chính mình .
Có thể nói mảnh đất 3/ 2 Quỳ hợp mà cái
nôi là trường phổ thông cấp I, II 3/2 I
là nơi nuôi dưỡng , rèn luyện tạo
cô trưởng thành . Niềm đam mê nghề nghiệp , say sưa việc chuyên môn , tinh thần
tự học vươn lên , ý thức học hỏi , luôn tự sáng tạo , cùng với tâm huyết : “
Tất cả vì học sinh thân yêu ” quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao , vì
thế ngay từ những năm đầu mới bước vào nghề cô đã đạt được giáo viên dạy giỏi
cấp huyện , cấp Tỉnh ...
Với phẩm chất đạo đức tốt , tư cách tác
phong mẫu mực của một nhà giáo , tinh thần kỷ luật cao , nghiêm túc trng công
việc cùng với sự nổ lực của bản thân cô giáo Nguyễn Thị Bích Năm được nhà
trường ,cấp uỷ địa phương và cấp trên đánh giá cao , do đó năm 1980 cô vinh dự
được đứng trong hàng ngũ của Đảng và một thời gian làm phó hiểu trưởng trường
TH số 1 Minh Hợp , năm 1991 , sau khi học xong khoá quản lý giáo dục (Lớp HT)
do sở GD& ĐT Nghệ an tổ chức , cô được đề bạt làm hiệu trưởng cho đến lúc
đủ điều kiện nghỉ hưu ( năm 2011)
Bao năm đạt tiêu chuẩn giáo viên dạy giỏi
, giáo viên giỏi, CSTĐ ; tự vươn lên trong gian khổ , khó khăn , tiến bộ trong
sự đùm bọc yêu thương của đồng chí , đồng nghiệp của phụ huynh học sinh của
nhân dân ; khi là cán bộ quản lý dù ở đâu Minh Hợp hay Nghĩa Xuân ; dù cơ sở
vật chất đầy đủ hay thiếu thốn ... Cô vẫn giữ vững được lề lối làm việc , tác
phong sinh hoạt , tính cách mẫu mực , tận tuỵ với công việc với nghề nghiệp ,
khiêm tốn học hỏi mọi người , đồng nghiệp , học tập trường bạn ( Qua các đợt đi
thanh tra các trường , làm giám khảo thi
giáo viên dạy giỏi ) tìm mọi cách khắc phục khó khăn , đổi mới công tác quản lý
làm cho trường vững về chuyên môn , chính trị , đầy đủ về cơ sở vật chất phục
vụ tốt cho giảng dạy và học tập ...
Đời lãnh đạo của cô đã từng làm quản lý
: Phó hiệu trưởng trường TH số 1 Minh Hợp , Hiệu trưởng trường TH số 2 Minh hợp
Hiệu trưởng trường TH số 1 Nghĩa Xuân cả 3 trường đều gắn với 2 nông trường QD
3/2 , Xuân Thành và Nhà máy đường . Học
sinh đủ các thành phần : con em công nhân , nông dân , tri thức , TTC , buôn
bán , làm thuê , làm mướn ... Lại tự
nhiều nơi khác đến . Tính ra gần như học sinh con em từ các tỉnh ngoài Bắc vào
trong Nam ra trên dưới 30 tỉnh thành , có nhiều dân tộc , tôn giáo ... Đội ngũ
giáo viên cũng đủ các thành phần , dân tộc trình độ chênh lệch , khác nhau (
THSP 7 + 1 , 7 +2 , 7+3 , 10+1 , 10+2 , 10+3 , THHC, CĐ , Đại học ) ... Nhưng
lãnh đạo nhà trường , đứng đầu là hiệu trưởng , con chim đầu đàn biết kết hợp
được hài hoà , tạo nên khối đoàn kết nhất trí , giúp đỡ lẫn nhau trong cả sinh
hoạt hàng ngày của cuộc sống và chuyên môn ; xây dựng trường , lớp các tổ
chuyên môn , các tổ chức đoàn thể như công đoàn , đoàn thanh niên ngày càng
vững mạnh .
Ngày hai buổi đến trường , ngoài trách
nhiệm của một hiệu trưởng quản lý chuyên môn , lên kế hoạch lịch cho từng bộ
phận nhóm , tổ để từ đó các nhóm trưởng , tổ trưởng , đầu mối của các tổ chức
đoàn thể lập kế hoạch cụ thể cho mình thực hiện ; cô còn như một người chị cả ,
người bạn người đi trước luôn gần gũi giúp đỡ , động viên , khuyễn khích , dìu
dắt giáo viên , nhất là giáo viên trẻ mới
vào nghề và đội ngũ cốt cán làm tốt công tác tư tưởng , khơi dậy lòng
đam mê hăng say nhiệt tình với chuyên môn , với công việc ; giúp mọi người taọ
niềm tin cho họ để họ tự khẳng định mình . Đồng thời nhắc nhở , bày nhụ động
viên mọi người , mọi tổ chức tham gia mọi hoạt động công tác , nhất là các
phong trao thi đua theo các chủ đề phục vũ cho giảng dạy , học tập, rèn luyện
tư cách đạo đức ... Từ đó làm cho cán bộ giáo viên và học sinh có ý thức thi
đua , tinh thần tập thể , tính tự giác , trách nhiệm cao tự rèn luyện mình .
tất cả còn được thể hiện trong các cuộc họp hội ý – chuyên môn , họp cơ quan ,
họp hồi đồng giáo dục , sơ kết , tồng kết , xét thi đua ... luôn thể hiện tính
dân chủ , lắng nghe và tôn trọng ý kiến giáo viên , họp hành , đánh giá động
viên nhiều hơn là áp đặt .
Tất nhiên trước các cuộc họp đã được hội ý
trong ban giám hiệu ;có khi họp BLĐ mở rộng xuống các Tổ trưởng , khối trưởng
chuyên môn , các tổ chức đoàn thể để có sự thống nhất cao trong lãnh đạo của
cấp uỷ mà cô là bí thư . Nội dung họp thường bàn nhiều, đi sâu vào công tác chuyên môn , giúp giáo
viên trong việc soạn bài , chấm bài , cho điểm và phương pháp lên lớp cho từng
đối tượng . Ngay cả khi giáo viên đi thi giáo viên dạy giỏi , hiệu trưởng cùng
với khối , tổ chuyên môn tập hợp các nhóm bài bắt thăm hướng dẫn cụ thể cả về
KTCB và phương pháp giảng dạy trên lớp . Cho nên các đợt thi về giáo viên đều
phấn khởi bởi đạt được kết quả khá mỹ mãn
Nghiêm khắc , cương trực , nghiêm túc
trong chuyên môn , nhưng tình cảm , tôn trọng , thương yêu đồng nghiệp , bạn bè
, dễ gần và gắn bó . một hiệu trưởng có cái tâm lớn , cái đức chuẩn mực lý tình
trọn vẹn ... Đó là cảm nhận đầu tiên của những ai đã được tiếp xúc với cô , gần
gũi và công tác với cô .
Bởi thế 36 năm trong nghề dạy học , trong
đó có gần 30 năm làm công tác quản lý . Vậy mà rất nhiều học sinh biết đến cô ,
yêu mến cô . Những năm trực tiếp đứng lớp, làm công tác chủ nhiệm , cô thường quan tâm đến lớp, đến học sinh , nhất là học sinh yếu kém , có
hoàn cạnh khó khăn , đi sâu sát nắm bắt
được từng hoàn cảnh cụ thể để có điều kiện giúp đỡ , tạo điều kiện khắc phục ;
rồi kèm cặp bồi dưỡng học sinh khá giỏi , phụ đạo học sinh yếu kém ... Vì vậy năm nào lớp cô cũng
có học sinh khá giỏi các cấp và học sinh tiên tiến, tiên tiến xuât sắc nhiều .
Mỗi một học sinh chăm chỉ học hành , tiến bộ, phấn đấu tốt ; mỗi một em đạt
học sinh tiên tiến, mỗi một cá nhân được
công nhận học sinh giỏi hay khuyến khích
là cô thấy niềm vui sướng , tự
hào càng say sưa với nghề nghiệp ... Biết bao lớp học sinh ra trường , biết bao
học sinhh của cô năm xưa đã trưởng thành , thành đạt như Tử Chuyên , Cao Chung
,Vân Anh , Hoa Lý , Thi Thơ , Trần Phương , Trường Giang ,Cao Thuý, Thu Hương ,
Khánh Chi , Tú Oanh ...
Nhất lại có những học sinh trong đó có
tình cảm đặc biệt luôn gần gũi gắn bó với cô với cả gia đình tôi suốt thời gian
, quảng đời đi học từ cấp I, đến cấp II lên cấp III và cả chuyên nghiệp . Các
em xem nhà tôi như là gia đình thứ hai của mình , quan tâm , lo lắng , vui ,
buồn , chia sẻ . Và vợ chồng tôi cũng coi các em như con cháu trong nhà , còn
lo cho cả khi vào trường và cả khi học xong chuyên nghiệp , tốt nghiệp ra công
tác như Tuyết Phương – Hiệu trưởng TH số 1 Minh Hợp , Bích Ngọc – giáo viên
trường THPT Quỳ Hợp II .
Thời Hiệu trưởng không trực tiếp giảng
dạy , không làm chủ nhiệm nhưng khi ốm đau giáo viên đi thăm , học sinh cũng đi
thăm mặc dù học sinh chỉ biết hiệu trưởng , tiếp xúc với hiệu trưởng chỉ trong
buổi sáng thứ 2 – tiết chào cờ , phổ biến lịch kế hoạch công tác và những khi
có điều gì cần trực tiếp vào lớp nhắc nhở hoặc thăm lớp dự giờ . Điều đáng nói
là khi học sinh đi thăm là tự ý thức chủ động , không có sự gợi ý , bày nhủ của
giáo viên chủ nhiệm hoặc gia đình . Có nhiều trường hợp rất cảm động . Bởi các
cháu mới 6, 7 tuổi , học lớp 1, 2 mà đã
biết : thấy thầy cô đi thăm hiệu trưởng ốm đau cũng về đòi , xin mẹ tiền mua
quà để đi thăm ; khi cô không nhận lại khóc . Buộc cô phải nhận sau đó nói khéo
, cho lại cháu mua sách vở , mới chịu nhưng không được vui . Đó là trường hợp
cháu Lê Tú Oanh , cựu học sinh lớp 1 năm 1995 – 1996 , nay cháu đã qua thời
sinh viên đại học ra trường công tác đã 3, 4, năm nay . Đây cũng là một trong nhiều
học sinh giỏi và thành đạt của cô trong những năm làm quản lý giáo dục . Và
cũng như Tuyết Phương , Bích ngọc , Tú Oanh cũng là trường hợp cho đến nay vẫn
gắn bó , thân thiết với nhà tôi . Cháu xem vợ chồng tôi như bố mẹ thứ hai của
cháu – Xin được gọi bác , xưng con ; nhận con trai con gái tôi là anh cả chị
đầu ; Xa nhau : nhớ , luôn điện thăm hỏi ; lâu ngày về quê đến bác , anh chị
đầu tiên . Và tất nhiên chúng tôi cũng coi cháu như một thành viên trong gia
đình
Bởi thế mỗi lần có quyết định thuyên
chuyển công tác , tập thể giáo viên , có cả ý kiến đại diện “ Hội cha mẹ học
sinh ” đều làm đơn kiến nghị gửi cấp trên xin cho cô ở lại trường . Mặc dầu
trước đây khi nghe tin cô về trường ai cũng ngại vì sợ cô khó tính , lại quá
nghiêm khắc trong công việc , nhất là chuyên môn ... Ngay ngày chia tay về nghỉ
hưu nhiều giáo viên khóc , cô cũng mủi lòng , nghẹn ngào rưng rưng lệ làm cho
buổi chia tay càng lưu luyến bịn rịn , nước mắt sụt sùi . ( Điều đáng nói là
hôm chia tay , tiễn cô không chỉ đông đủ giáo viên , học sinh toàn trường mà
còn có cả phụ huynh học sinh, nhất lại có cả lãnh đạo địa phương , lãnh đạo
phòng , cán bộ chuyên môn phòng giáo dục – đào tạo . ( Kết hợp trong buổi lễ
tổng kết năm học ) .
Nay đã nghỉ hưu nhưng tình cảm của nhà trường
, của giáo viên đã từng làm việc cùng công tác với cô , có người dù chỉ một vài
năm , thậm chí chỉ vài ba tháng nhưng cũng rất gần gủi , gắn bó với cô , luôn
nghĩ đến cô . Ngày lễ ngày tết đều tổ chức đi thăm , tặng quà , chúc mừng cô .
( Có cả danh nghĩa tập thể giáo viên và cá nhân )
Về hưu nhưng cô vẫn quan tâm đến trường
với sự nỗ lực vươn lên của đội ngũ giáo viên , vẫn theo dõi , nắm bắt từng bước đi của nhà trường mà cô đã từng làm
hiệu trưởng , đã gắn bó và đã có công đóng góp xây dựng trưởng thành .... Cho
nên dù cô đã nghỉ hưu , quan hệ công tác không còn nữa , thời gian có qua đi ,
xã hội đổi thay , xoá nhoà mọi thứ , nhưng trong kí ức giáo viên , trong tình
cảm giáo viên vẫn luôn dành cho cô – một hiệu trưởng hết mực vì trường , vì học
sinh thân yêu vì tất cả mọi người tin tưởng , thương yêu , kính trọng .
Hiệu trưởng hai trường , cả hai trường
đều đạt chất lượng cao của huyện , công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ
một . Ngoài nguồn kinh phí của nhà nước
cấp đầu tư cho cơ sở vật chất , trang thiết bị giảng dạy , cô còn cùng ban lãnh
đạo vận động nhân dân , nhất là tầng lớp phụ huynh học sinh đóng góp cùng làm
và đã xây dựng được những ngôi trường khang trang , sạch đẹp , có tường rào bao
quanh , đạt tiêu chuẩn .
Làm
được như vậy, bởi như có người nhận xét : “ Cô vốn có đầu óc thông minh , nhanh
nhẹn tháo vát và nhất là có một ý chí quyết tâm cao ” . Và mọi đều may mắn đến
với cô , không chỉ đạt ước mơ dạy giỏi , giáo viên giỏi mà hơn thế , cô còn là
người quản lí giáo dục khá vững vàng , được đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường
, cán bộ lãnh đạo địa phương và các cấp trên tín nhiệm , tin tưởng . Và mọi
người luôn nhìn thấy trong ánh mắt cô luôn tràn đầy lòng quyết tâm , cô luôn là
niềm tin và hy vọng của mọi người , của tập thể , của tổ chức ...
Nhận xét định kì hàng năm , thường được
cấp trên ghi nhận “ Tác phong đạo đức tốt , năng nổ nhiệt tình trong công tác .
Có tinh thần vượt khó , ý thức vươn lên cao , trung thực chân thành , biết sử
dụng con người , quý trọng nhân tài khiêm tốn học hỏi , sáng tạo đổi mới vững
chắc . Có năng lực , có uy tín , công tác quản lí có hiệu quả , luôn hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ được giao ” .
Có thể nói cô là một hiệu trưởng , một
nhà giáo đã một đời tận tâm cho sự nghiệp giáo dục , cống hiến cho sự nghiệp
trồng người . Một con người có một tình
yêu chân thành , lòng đam mê nghề nghiệp , gắn bó lâu dài với sự nghiệp , gây
cho mọi người ấn tượng tốt đẹp ...
Nhà tôi không chỉ là người tận tâm , tận
tuỵ với nghề mà còn là chổ dựa vững chắc cho gia đình .
40 năm , kể từ ngày cưới tôi đã có một gia
đình êm ấm : Một vợ hai con trưởng thành , Con gái đầu Phạm Thị Quỳnh Nghĩa ,
theo nghiệp bố mẹ , giáo viên cấp 3 đã có gia đình , chồng Nguyễn Xuân Trường
giáo viên Anh văn , đã có 2 con đủ cả nếp lẫn tẻ . chúng tôi cũng rất vui vẻ tự
hào với 2 cháu ngoại : Nguyễn Thị Khánh Linh và Nguyễn Minh Đức : xinh ngoan ,
thông minh .... Con trai Phạm Xuân Ngọc kĩ sư xây dựng thuộc tổng công ty cổ
phần xây lắp dầu khí VN Vũng Tàu chưa thành lập gia đình riêng ( Đường con cái
vợ chồng tôi hiếm , muộn ,mang tôi cha già con muộn ) . Bù lại , tôi có một gia
đình tuy chưa được tuyệt vời như số người đã khen và nhận định , nhưng như thế
vơi tôi cũng đã thoả mãn , mỹ mãn lắm rồi . Bởi vợ chồng biết thông cảm , chia
sẽ , thương yêu nhau , biết sống vì nhau ...
Theo con mắt , cách suy xét , nhìn
nhận của mọi người thông cảm gần gũi , nhất là hai đữa con : Bố nóng tính
nghiêm khắc nhưng độ lượng biết yêu mẹ thương con ( kể cả hai cháu ngoại
cũng rất thương yêu chiều chuộng). và ngược lại mẹ cũng giành tất cả không chỉ
tình yêu , tình thương mà cứ có gì về vật chất mẹ đều giành , nhường nhịn cho
bố con . Miếng ăn ngon ,của vật lạ ít khi mẹ đụng đến ... Một người mẹ dịu dàng
, đôn hậu , trìu mến làm sao . Đời mẹ hình như ngoài công việc xã hội chỉ để
yêu thương và hy sinh cho chồng con ... Như có lần con đã nghe bố kể về hai bà
nội , ngoại ....
Còn hai đứa con Quỳnh Nghĩa , Xuân Ngọc
làm sao có thể yêu bất cứ người nào trên đời này hơn học hoặc bằng bố mẹ được (
Ngoài vợ chồng con cái khi có gia đình ) . Nhất là với bố , càng lớn càng hiểu
bố , càng yêu bố kính trọng bố. Bố đi lâu xa lâu ngày : Nhớ , khóc , đến bữa ăn
nhắc , điện thoại gọi , hỏi thăm xem bố đã ăn cơm chưa , có khoẻ không , khi
nào bố về ...
Điều đặc biệt , con gái được nghe mẹ và Mự
Tuất ( Chị dâu mẹ ) kể lại , hồi nhỏ cho đến năm , bảy tuổi cứ bố đi công tác
xa dăm ba ngày là ở nhà con kém ăn , cảm sốt , ốm đau , có lúc phải đưa đi trạm
xá , bệnh viện bác sỹ khám . Bố về là khỏi , vui chơi bình thường . Điều đó
cũng khó giải thích và cũng không hiểu ra sao cả - Có điều , đó là sự thật mà
không phải chỉ một vài lần mà nhiều lần như thế . Hình như có một sợi dây tình
cảm nào đó luôn được gắn kết bền vững . Nhiều người còn nhận thấy cả hai đứa
con , đứa nào cũng vậy , càng lớn càng giống bố .
Trong lĩnh vực tình cảm , ai lại không
yêu, không quý , không kính trọng người
đã sinh ra và đã nuôi nấng mình khôn lớn , lại cho ăn học đến nơn đến chốn đã
trưởng thành , thành đạt . Hơn nữa biết được bố mẹ sinh ra và nuôi con trong
điều kiện hết sức khó khăn , lại trong thời kì bao cấp những năm 80 của thế kỉ
trước . Nhất lại cả hai đứa con từ nhỏ đã bị ốm đau , bệnh tật , lại tội lười
ăn , nhác uống . Tiền thuốc nhiều hơn tiền
cơm . Thuốc nặng hơn người . Con gái sơ sinh Phạm Thị Quỳnh Nghĩa mới
một tuần tuổi đã bị thối rốn do khi cắt rốn , sát trùng , băng bó không cẩn
thận để gạc ngoài băng nằm trong bị nhiễm trùng . Lúc tháo băng hộ lí y tá
không biết , không để ý cho là đã đến hạn mở cứ thế lôi ra đứt cả vết thương .
( tiếp giáp giữa băng và đầu rốn ) máu ,
mủ chảy ra , toàn thân tím tái , ngất xỉu tưởng đi luôn từ đó làm bố mẹ không
còn chi là hồn vía , đau thương lo lắng ... Được phúc trời thương , tổ tiên phù
hộ cứu chữa kịp thời lại có loại thuốc khử trùng hiệu nghiệm , thuốc bổ quý
hiếm mà em Thuận (Học sinh cũ ) đang học Đại Học Bun Ga Ri Gải gửi về làm quà
cho thầy
Chưa hết , chưa đầy 3 tháng tuổi , mụn nhọt
đầy đầu . Trước sau , hai bên đều mụt mà lại sưng to , mủ nhiều , Ủ nằm không
được bố mẹ phải thay nhau bồng bế ôm cho con suốt đêm đến sáng . Có thể nói
trong những ngày tháng đó , thời gian ở trạm xá NTQD 3/2 , bệnh viện Quỳ Hợp
nhiều hơn ở nhà . Cũng trong thời gian này bố làm hiệu trưởng trường cấp 3 VHVL
3/2 gần nhà mẹ lại có chế độ nghỉ sinh và khi con đau ốm cũng có điều kiện thời
gian , chăm sóc con .
Còn nữa là những tai nạn bất thường xẩy
ra mà ta không lường trước được . Một lần chơi đùa với bạn ( trò đuổi bắt ) bị
đầu trán va vào cửa , trúng vào chốt sắt máu ra nhiều . Một lần ở bệnh viện níu
kéo đình màn bị đứt dây ngã ngửa từ
giường xuống nền xi măng bị chấn thương phía gáy sau . Năm 12 tuổi múc nước
giếng , cây tre làm cần buộc gàu gãy đập vào đầu bị trọng thương . Đó là chưa
kể những nạn nhỏ thường xẩy ra hàng ngày như đêm hôm chơi đùa với bạn bè chạy
nhảy vấp ngã , va vào hàng rào , dậm phải mưởng chai hay như lần ngã xuống hố
vôi , may mà hố vôi tôi đã lâu nên không bị bỏng , chỉ phải tắm rửa , gọi đầu
trong đêm trời gia lạnh . Cũng may , cuối cùng cũng qua đi , cũng khỏi , tuy có
lúc động trời , hơi gió thời tiết thay đổi còn hay đau đầu , sổ mũi .
Con trai Phạm Xuân Ngọc lúc đẻ mẹ phải mổ
( do thai quá lớn , mới lọt lòng đã được 4,5 kg . Khi lấy ra bác sĩ Liễu Trưởng
khoa sản sơ ý làm trật khớp xương đùi nhưng không ai để ý , lai đưa về nhà bú
dì ( Chị gái mẹ đang nuôi con 4 tháng tuổi ) và hai bà nội, ngoại chăm sóc ( Mẹ
phải ở lại bệnh viện điều trị vết mổ) . Hai bà lại thấy con mình hiếm hoi nay
có thêm cháu trai , lại càng thương con cháu , nên rất kiêng cữ . suốt ngày
thay nhau bồng bế cháu , cháu lúc nào cũng được ủ kín trong chăn , cửa lại đóng
kín mít sợ hơi, sương , gió , ai vào thăm cháu cũng không cho , sợ mắc phải vía
( Quan niệm xưa các cụ phải được chẵn tháng ) ... Nên lại không biết gì về trật
khớp xương của cháu . Chỉ biết mỗi lần người này trao cho người kia là cháu
khóc thét lên . Nhiều lúc khóc ngắt không ra tiếng , mặt tím tái , cứ nghĩ là
bị hơi hám , mắc phải vía ( Diều này đã xẩy ra ngay từ đêm đầu tiên cháu mới ra
đời ở bệnh viện ) .
Sau 5 ngày vết mổ của mẹ đã được gắn kết
, tương đối ổn định mới đưa cháu lên viện được bú sữa mẹ . Khi tắm rửa thay tã
áo cho cháu các bác sĩ y tá và cả người nhà mới phát hiện một chân của cháu bị
sưng to , bầm tím , co quắp không cử động được . Sự đau thương lo lắng của mọi
người nhất là bố mẹ cháu càng làm cho các bác sĩ , y tá và cả hộ lí dốc lòng
tập trung cứu chữa cho cháu . Đến khi chân cháu gần như đã khỏi , cử động được
thì cháu lại bị đi ngoài mất nước trầm trọng do dùng thuốc kháng sinh quá nhiều
lại cao liều nên khuẩn đường ruột bị diệt . ( Nhưng nếu không thế thì chân lâu
mới khỏi mà để lâu thì như bác sĩ điều trị nói có thể thành tật )
Trầm trọng nguy hiểm đến mức có lúc đi quá
nhiều lần trong thời gian ngắn . Bú vào không tiêu , đi ra cả sữa . Thậm chí có
khi ngất xỉu , mắt nhắm nghiền , tay chân không cử động , toàn thân mềm nhũn
xanh sao như tàu lá . Truyền huyết thanh bổ sung nước không lấy được ven , bác
sĩ dùng kim tiêm chọc sâu vào gót chân cũng không được , Mẹ đã hốt hoảng van
khóc thảm thiết kêu trời cầu cứu ... Tưởng con xẽ không qua khỏi . Cậu cả ( anh
trai mẹ ) trực tiếp gặp các bác sĩ giỏi mong “ còn nước còn tát ” tập
trung cứu chữa cho cháu . Rồi được sự
nhiệt tình cứu chữa của các y bác sĩ , nhất là bác sĩ giám đốc bệnh viện Hoàng Kim Tiệu , với tinh thần
trách nhiệm của người thầy thuốc trước bệnh nhân “ đã tận tâm , tận lực tìm mọi
cách , mọi loại thuốc phù hợp cứu chữa qua khỏi .
chưa hết đến hơn 2 tuổi con lại bị viêm cầu
thận và kéo dai hơn suốt 2 năm . Thuốc thang khá nhiều , chữa chạy quá vất vả (
Cả tây y , đông y và thuốc nam ) Mơi chữa khỏi . Có thể nói đây là thời gian ,
là lúc bố mẹ lo lắng , thương con nhất . Đau yếu kháng sinh vào cơ thể đã nhiều
, sữa mẹ lại ít , sơ sinh lại không được bú sữa non , thiếu đề kháng . Hơn nữa
lại không được ăn mặn . Thức ăn ( Kể cả cá thịt ) chỉ có luộc , nướng , hấp ,
canh không mắm muối , thậm chí tết phải gói bánh chưng, bánh tét riêng không
cho muối .Đến mức con thèm mặn quá , bữa
ăn chỉ xin mẹ - cho con lấy đũa chấm một tí vào nước mắm mút , thương hơn chị
làm rơi một cọng dưa cải em vội vàng nhặt bảo em được và cho ngay vào mồm . Quả
đáng tội thật đáng thương...Tất cả làm cho con thêm ốm yếu . Lúc lọt lòng nặng
cân như vậy mà nay gầy nhom đến thế . Có lẽ vì thế mà chị gái thường gọi một
cái tên gần gũi trìu mến , dễ thương “ Còi”
Sau này hai con lớn lên biết rõ bố mẹ nuôi
nấng chăm nom như thế nào . thương yêu chiều chuộng ra sao qua mọi người kể lại
,lại càng thương yêu bố mẹ hơn . Đó là chưa kể mẹ phải mổ khi bệnh viện không
có thuốc gây mê mà chỉ ít thuốc tê . Lúc mổ còn đỡ khi khâu , mỗi mũi kim sợi
chỉ xuyên qua thịt là một tiếng la thét lớn bởi quá đau đớn ... Nhưng khi con
chào đời , biết được đứa con trai an toàn, kháu khỉnh dù đau nhưng rất vui mừng
(điểm 10: gái đầu trai thứ hai). đôi mắt người mẹ lóe lên tia sáng của niềm vui
hạnh phúc. Hạnh phúc có thêm đứa con yêu quý, hiếm hoi ra đời.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét